ĐẦU TƯ TẠO TÁC NHÂN NỘI SINH CHO TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ BỀN VỮNG
15/02/2019 10.216 lượt xem
Bài viết đề cập đến một trong những vấn đề được quan tâm của nền kinh tế hiện nay là việc chuyển nền kinh tế từ mô hình tăng trưởng chủ yếu theo chiều rộng, dựa vào khai thác các nguồn tài nguyên sẵn có, nguồn lao động rẻ và tăng qui mô vốn đầu tư  sang mô hình tăng trưởng bền vững, luận giải tính cấp thiết của tăng trưởng bền vững đối với nền kinh tế nước ta hiện nay và chỉ ra vai trò của đầu tư đối với tăng trưởng bền vững. Các mô hình tăng trưởng kinh tế nội sinh cho thấy để đạt được tăng trưởng kinh tế bền vững, cần phải đầu tư cho vốn vật chất, trước hết là đầu tư cho máy móc và thiết bị, đầu tư cho vốn con người và khu vực tri thức. Trong đó, đầu tư cho vốn con người và tri thức hiệu quả hơn theo nghĩa các khoản đầu tư cho vốn con người và tri thức tạo ra những tiền đề cho sự xuất hiện những tiến bộ khoa học công nghệ, đến lượt nó tiến bộ khoa học công nghệ sẽ là các tác nhân nội sinh của tăng trưởng kinh tế trong dài hạn.
 
Mở đầu

Tăng trưởng kinh tế với tốc độ cao và ổn định là một nhiệm vụ quan trọng của một quốc gia, đặc biệt là các nước đang phát triển. Nền kinh tế tăng trưởng với tốc độ cao cho phép giải quyết những nhiệm vụ cơ bản của đất nước như bảo đảm sự phát triển kinh tế - xã hội bền vững, nâng cao mức sống nhân dân, tăng cường an ninh quốc phòng và khẳng định vị thế của đất nước trong quan hệ quốc tế. Điều này giải thích tại sao tăng trưởng kinh tế luôn là vấn đề trung tâm trong các chính sách kinh tế và chiến lược phát triển của mọi quốc gia. Vấn đề này càng có ý nghĩa quan trọng và cấp thiết hơn đối với các nước kém phát triển, bởi vì đây là con đường duy nhất để các nước này có thể thu hẹp khoảng cách và tiến tới đuổi kịp các nước
phát triển.
Vấn đề tăng trưởng là vấn đề quan trọng đối với nền kinh tế Việt Nam hiện nay. Tăng trưởng kinh tế chững lại trong năm 2016, đạt 6,2%, thấp hơn so với mức 6,8% của năm 2015. Nguyên nhân tăng chững lại trong năm qua về cơ bản là do sụt giảm trong các ngành nông nghiệp và khai khoáng, trong khi ngành công nghiệp và xây dựng tăng trưởng 7,6% và dịch vụ tăng lên gần 7% .
Năm 2017, nền kinh tế lấy lại đà tăng trưởng, tổng sản phẩm trong nước 9 tháng đầu năm 2017 ước đạt 6,41% so với cùng kỳ năm 2016, trong đó quí III năm 2017 tăng 7,46%, là mức tăng trưởng cao nhất kể từ năm 2011. Đóng góp lớn nhất vào mức tăng GDP chín tháng đầu năm 2017 là khu vực sản xuất công nghiệp và xây dựng 7,6%, trong đó ngành công nghiệp chế biến chế tạo tăng khoảng 12,8%, khu vực dịch vụ tăng 7,6%, khu vực nông, lâm nghiệp, thủy sản  tăng 2,9%. Tuy nhiên, cũng cần phải nhận thấy rằng sự tăng trưởng của nền kinh tế Việt Nam hiện nay còn phụ thuộc nhiều vào sự đóng góp của các nhà đầu tư nước ngoài. Trong đó, hai doanh nghiệp có đóng góp lớn nhất là các doanh nghiệp thuộc ngành điện tử, điện thoại (như nhà máy Samsung), ngành thép (như nhà máy Formosa) [4].
Nguyên nhân chủ yếu của tình trạng này vẫn là đặc điểm của mô hình tăng trưởng theo chiều rộng, dựa vào tăng vốn đầu tư, trong đó có đầu tư nước ngoài, nguồn lao động rẻ và khai thác các nguồn tài nguyên, chất lượng tăng trưởng thấp, chỉ số ICOR vẫn ở mức lớn hơn 6. Điều này cho thấy sự cần thiết phải nghiên cứu để tăng trưởng, từng bước chuyển sang con đường phát triển trên cơ sở đổi mới sáng tạo để đạt được sự tăng trưởng kinh tế bền vững.
 
Sự phát triển vốn con người - nguồn gốc nội sinh của tăng trưởng kinh tế

Các nghiên cứu trên thế giới về các cơ sở phương pháp luận để bảo đảm cho tăng trưởng kinh tế bền vững chỉ ra rằng vai trò chủ yếu để đảm bảo cho tăng trưởng bền vững là đầu tư hợp lý. Điều này lần đầu tiên được chỉ ra trong các nghiên cứu của Romer, Lucas và Rebelo. Theo Lucas (1988), đối với hệ thống kinh tế, tích luỹ vốn con người là nội sinh và cho phép giải thích một cơ chế cộng dồn tăng trưởng mà không cần phải viện đến một tăng trưởng ngoại sinh. Còn theo Romer (1990), tiến bộ kĩ thuật là nguồn gốc nội sinh của tăng trưởng, mà vốn con người lại là yếu tố hàng đầu cho việc sáng tạo ra tiến bộ khoa học công nghệ. Tác giả đưa ra khái niệm kho vốn con người và khái niệm kho tri thức hiện có trong một xã hội, kho tri thức này là một hàng hóa công cộng. Đóng góp quan trọng nhất của Romer và Lucas là các tác giả hình thành và đưa ra xu hướng mới cho tăng trưởng kinh tế dài hạn, gọi là học thuyết tăng trưởng kinh tế nội sinh [2; 3]. Các mô hình tăng trưởng kinh tế nội sinh được hình thành  tùy thuộc vào nguồn gốc tăng trưởng kinh tế và đối tượng đầu tư.
 Trong các mô hình với sự tích lũy vốn vật chất, giả định rằng công nghệ và tri thức được phản ánh trong vốn vật chất sẽ chuyển hóa thành hàng hóa công cộng và dưới sự tác động của hiệu ứng tràn (spillover effect) sẽ ảnh hưởng đến tăng trưởng năng suất của nền kinh tế.
Sự suy đoán của Lucas về khả năng tăng trưởng kinh tế liên lục dựa vào đầu tư cho vốn con người cho phép tác giả đề xuất mô hình, trong đó việc đầu tư cho vốn con người tạo ra hiệu quả làm cho trình độ phát triển công nghệ tăng nhanh hơn so với đầu tư vào vốn vật chất.
Những nghiên cứu về nguồn gốc của tiến bộ công nghệ, cơ chế xuất hiện và triển khai các đổi mới sáng tạo cho phép xây dựng các mô hình, trong đó nêu ra 2 khu vực chủ yếu tham gia vào quá trình hình thành tiến bộ khoa học công nghệ là: Khu vực sáng tạo và tích lũy tri thức (ý tưởng) và khu vực sản xuất hàng hóa (vật chất). Trong hai khu vực trên thì ý tưởng là công cụ tạo ra những hàng hóa có giá trị gia tăng cao và do đó khu vực này là nhân tố có ý nghĩa hơn đối với tăng trưởng kinh tế.
Như vậy, để đạt được tăng trưởng kinh tế bền vững, cần phải đầu tư cho vốn vật chất, trước hết là đầu tư cho máy móc và thiết bị, đầu tư cho vốn con người và khu vực tri thức. Trong đó, đầu tư cho vốn con người và tri thức hiệu quả hơn theo nghĩa các khoản đầu tư cho vốn con người và tri thức tạo ra những tiền đề cho sự xuất hiện những tiến bộ khoa học công nghệ, đến lượt nó tiến bộ khoa học công nghệ sẽ là các tác nhân nội sinh của tăng trưởng kinh tế trong dài hạn.
Việc đầu tư cho vốn con người cho phép đảm bảo tăng trưởng kinh tế bền vững. Ở đây, vốn con người được hiểu là tổng thể các tài nguyên bao gồm kiến ​​thức, tài năng, kỹ năng, năng lực, kinh nghiệm, trí thông minh, động lực, trí tuệ sở hữu riêng và chung của các cá nhân được hình thành và tích lũy lại từ những kết quả đầu tư hợp lý có mục đích trong quá trình tái sản xuất xã hội, có vai trò thúc đẩy tăng năng suất lao động và hiệu quả sản xuất, qua đó làm tăng thu nhập của người lao động [1].
 
Hạn chế đầu tư vào vốn con người và khoa học công nghệ - Tăng trưởng kinh tế không bền vững và cản trở đổi mới sáng tạo

Như vậy, vốn con người được thể hiện trong bản thân con người bằng tiềm năng mang lại thu nhập trên cơ sở những khả năng bẩm sinh về thể lực và trí lực, cũng như những kiến thức và kỹ năng nhận được trong quá trình xã hội hóa, giáo dục và hoạt động thực tiễn của con người, có khả năng tích lũy và nhân lên. Vốn con người được hình thành trước hết từ đầu tư nâng cao trình độ và chất lượng cuộc sống của dân cư, trong đó đặc biệt quan trọng là đầu tư cho giáo dục, y tế, khoa học, văn hóa, nghệ thuật,... Nghĩa là việc đầu tư vào các lĩnh vực này sẽ tạo điều kiện phát triển vốn con người. Nhưng việc đầu tư cho vốn cố định của các ngành hướng vào sự phát triển vốn con người trong ba năm gần đây không có gì thay đổi. Nhịp độ tăng  vốn đầu tư vào các ngành hướng tới sự phát triển vốn con người  trong các năm 2014-2016 có xu hướng giảm. Năm 2014 mức tăng vốn đầu tư vào các ngành này là 123%, năm 2015 chỉ còn 105%, và năm 2016 cũng chỉ đạt 117%. Nguyên nhân chủ yếu của tình hình này là do trong cả thời kỳ này tỷ trọng của vốn đầu tư vào các ngành hướng tới sự phát triển vốn con người của nước ta không thay đổi và chỉ giữ ở mức 7% tổng đầu tư xã hội, tương đương 2 - 3% GDP.
Cho dù đã có rất nhiều cố gắng, nhưng việc đầu tư còn chưa đủ với nhu cầu và còn thiếu đồng bộ vào các ngành bảo đảm phát triển vốn con người dẫn đến chất lượng vốn con người được cải thiện còn chậm, nhịp độ tăng bộ phận dân số tích cực cho phát triển kinh tế và lực lượng lao động của nền kinh tế còn thấp, từ đó hạn chế tăng tổng sản phẩm trong nước.
Trong những thập niên gần đây, tri thức có vai trò quyết định đối với tăng trưởng kinh tế. Tri thức tạo tiền đề cho việc đổi mới sáng tạo và hình thành lực lượng lao động có trình độ chuyên môn cao. Không phải ngẫu nhiên mà tỷ trọng của các ngành công nghệ cao trong công nghiệp chế biến chế tạo và dịch vụ chiếm phần lớn và có xu hướng ngày càng tăng trong cấu trúc của GDP của các nước công nghiệp phát triển. Tỷ trọng bình quân của các ngành có cầu cao về tri thức như công nghệ cao, thông tin truyền thông, dịch vụ tài chính và dịch vụ kinh doanh trong GDP ở các nước này là 30-35% [4]. Chính vì vậy, các ngành này có nhịp độ tăng trưởng sản lượng, lao động, đầu tư, thương mại cao nhất. Mặt khác, ở các nước phát triển đầu tư cho nghiên cứu cơ bản được coi như một hướng chi ngân sách có hiệu quả cao, do đó, đầu tư cho tri thức ở các nước này tăng nhanh hơn so với đầu tư vào vốn cố định.
Năm 2017 Việt Nam đã có bước tiến rất quan trọng trong xếp hạng của thế giới về chỉ số đổi mới sáng tạo,  từ vị trí 59/128 năm 2016 nâng lên vị trí 47/127 nước và nền kinh tế. Tuy nhiên, vị trí của Việt Nam vẫn còn thấp về các chỉ số như số người làm nghiên cứu khoa học trên 1 triệu dân. Chỉ số này của Việt Nam là 700 người trong khi Singapore là 6500 người, Hàn Quốc 6000 người, Nhật Bản 5000, Mỹ 4000, Malaysia 1600 người và Trung Quốc 900 người [5].
Trong khi đó đầu tư cho khoa học còn hạn chế. Ngân sách dành cho khoa học công nghệ  của nước ta đã được nâng lên nhưng chưa tương xứng với tầm vóc và yêu cầu công nghiệp hoá hiện đại hoá, vốn đầu tư cho khoa học trong giai đoạn từ 2013-2016, chỉ ở mức khiêm tốn gần 1% GDP. Trong khi đó, mức đầu tư của Trung Quốc cho khoa học công nghệ từ năm 2010 đã là 2,2% GDP, của Hàn Quốc là 4,5% GDP.
Theo số liệu của Tổng cục Thống kê, trong tổng kim ngạch xuất khẩu thời kỳ 2013-2015 tỷ trọng  nhóm hàng thô và mới sơ chế có xu hướng giảm dần từ 25,5% năm 2013 xuống 18,7% năm 2015, tương ứng nhóm hàng chế biến và đã tinh chế tăng từ 74,3% năm 2013 lên 81,3% năm 2015. Đây là xu hướng thay đổi khá tích cực, nhưng nếu tính đến yếu tố xuất khẩu của khu vực có vốn đầu tư nước ngoài thì tình hình vẫn đáng lo ngại, cụ thể là trong giai đoạn này thì tỷ trọng xuất khẩu của khu vực có vốn đầu tư nước ngoài chiếm tương ứng 66,8% tổng kim ngạch xuất khẩu năm 2013 và 70,6% năm 2015, trong cơ cấu hàng xuất khẩu của khu vực có vốn đầu tư nước ngoài hầu hết là hàng hóa chế biến hoặc đã tinh chế. Như vậy, phần đóng góp vào xuất khẩu hàng hóa chế biến hoặc đã tinh chế của khu vực kinh tế trong nước còn nhỏ và chủ yếu giá trị kim ngạch xuất khẩu của khu vực kinh tế trong nước vẫn là doanh thu từ nhóm hàng hàng thô và mới sơ chế. Đây chính là hệ quả của thời kỳ duy trì mô hình tăng trưởng kinh tế dựa vào xuất khẩu nguyên liệu thô, khai thác tài nguyên sẵn có và huy động vốn đầu tư ở mức cao, đặc biệt là vốn đầu tư nước ngoài. Điều này không chỉ tác động hạn chế sự phát triển kinh tế của đất nước, mà còn tạo những nguy cơ bất ổn cho sự tăng trưởng bền vững, bởi vì để đạt được sự tăng trưởng, chúng ta phải bán đứt khoáng sản, sức lao động giản đơn rẻ mạt, đất đai và thậm chỉ là quyền tự chủ, sáng tạo…[7]. Ngoài ra, mô hình này còn cản trở sự phát triển đổi mới sáng tạo trong nền kinh tế. (Bảng 1)

Bảng 1: CƠ CẤU HÀNG XUẤT KHẨU 2013-2015
                                                          Đơn vị tính: %     
Tên chỉ tiêu 2013 2014 2015
Tổng kim ngạch xuất khẩu 100 100 100
Hàng thô hoặc mới sơ chế 25,5 23,8 18,7
Hàng chế biến hoặc đã tinh chế 74,3 76.2 81,3
Khu vực có vốn đầu tư nước ngoài 66,8 67,3 70,6
 
Nguồn: Tổng cục Thống kê
 
Kết luận và một số khuyến nghị

Tóm lại, vấn đế mấu chốt để Việt Nam ra khỏi tình thế hiện nay là vốn. Cần phải nhấn mạnh rằng ở các nền kinh tế phát triển đầu tư cho khoa học công nghệ được Nhà nước đặc biệt quan tâm, nhưng cùng với Nhà nước, các doanh nghiệp, các tập đoàn kinh tế cũng dành nhiều vốn cho đầu tư phát triển khoa học công nghệ áp dụng cho từng sản phẩm của mình. Ở Việt Nam, theo Bộ trưởng Bộ Khoa học công nghệ Nguyễn Quân thì “Tỷ lệ đầu tư cho KHCN từ ngân sách nhà nước tính trên GDP của Việt Nam là 0,5%, không thấp so với thế giới. Nhưng mức đầu tư của xã hội và doanh nghiệp ngoài nhà nước cho KHCN còn rất thấp, khoảng 0,3-0,4% GDP. Như vậy, tổng đầu tư của Việt Nam cho KHCN hằng năm vẫn dưới 1% GDP”[7].
Như vậy, vấn đề hiện đại hóa nền kinh tế nhằm khắc phục tình trạng kỹ thuật lạc hậu, nâng cao khả năng cạnh tranh, đáp ứng các nhu cầu phát triển vốn con người, khoa học công nghệ  và đạt được sự tăng trưởng kinh tế bền vững đòi hỏi khối lượng vốn đầu tư rất lớn. Để giải quyết vấn đề này cần phải: Thứ nhất, hoàn thiện chiến lược phát triển kinh tế xã hội, chuyển từ mô hình tăng trưởng kinh tế dựa vào khai thác và xuất khẩu tài nguyên, lao động rẻ và đầu tư theo chiều rộng hiệu quả thấp như hiện nay sang mô hình tăng trưởng kinh tế bền vững trên cơ sở đầu tư cho khoa học công nghệ, phát triển nền kinh tế số và công nghiệp thông minh, đầu tư cho phát  triển vốn con người để thúc đẩy sự phát triển đổi mới sáng tạo trong nền kinh tế. Thứ hai, điều chỉnh chiến lược và chính sách phát triển khoa học công nghệ một cách phù hợp theo hướng cải thiện môi trường đầu tư, tạo được thuận lợi cho phát triển khoa học công nghệ. Thứ ba, tăng cường tuyên truyền, giáo dục nhằm nâng cao nhận thức của xã hội, các tổ chức, đặc biệt là các  doanh nghiệp về vai trò của khoa học công nghệ và lĩnh vực tri thức, từ đó thay đổi cách thức tiếp cận và nâng cao sự quan tâm của xã hội cho phát phát triển khoa học công nghệ, giáo dục và đào tạo, chăm sóc sức khỏe cũng như sự phát triển toàn diện cho người lao động, qua đó thúc đẩy hoạt động đổi mới sáng tạo trong từng doanh nghiệp và cả nền kinh tế. Thứ tư, cần có những thay đổi trình tự công nhận các kết quả nghiên cứu cho phù hợp hơn, nên công bố rộng rãi để các chuyên gia trong và ngoài  nước có thể thẩm định, phản biện và thực tiễn đánh giá, thừa nhận và đặt hàng hoặc mua các kết quả nghiên cứu. Điều này sẽ giúp nâng cao trách nhiệm của người thực hiện các nghiên cứu và của cả các hội đồng thẩm định đối với hiệu quả của từng đồng vốn đầu tư cho phát triển khoa học công nghệ và tạo ra nguồn nội sinh của đầu tư cho phát triển khoa học công nghệ.
 
Tài liệu tham khảo:

1. Di-a-lốp X.A.(1994),  Cơ sở lý thuyết về vốn con người, NXB. XPBYEF, Moscow.
2. Đỗ Văn Đức (2016), Xác định nguồn lực cho tăng trưởng kinh tế theo chiều sâu, Tạp chí Ngân hàng, số 9/2016, tr.18, 2 - 8.
3. Ki-rơ-sin I.A. (2008), Sự biến đổi các quan niệm về sự tác động củ cơ chế hiệu suất tăng dần trong học thuyết phát triển kinh tế, Tạp chí Học thuyết Kinh tế, số 4, tr.128-146, Moscow.
4. Milner B. (2008), Quản lý tri thức trong nền kinh tế hiện đại,Viện Kinh tế - Viện Hàn lâm Khoa học Nga, Moscow.
5. Báo điện tử CafeBiz (2015), Khoa học Việt Nam đang đứng ở đâu, cafebiz.vn/thi.../khoa-hoc-viet-nam-dang-dung-o-dau-20150618115712654.chn
6.  Báo điện tử Đầu tư (2017), FDI là nhân tố chính thúc tăng trưởng kinh tế quý III, http://baodautu.vn/fdi-la-nhan-to-chinh-thuc-tang-truong-kinh-te-quy-iii-d70407.html:
7. Báo điện tử Đại biểu Nhân dân (2017), Ngân sách - sự tôn trọng khoa học công nghệ,http://www.daibieunhandan.vn/default.aspx?tabid=69&ItemId=221922&GroupId=1218.

 
                                                                                                                  PGS.,TS. Đỗ Văn Đức – Học viện Ngân hàng

(số 5/2018)
Bình luận Ý kiến của bạn sẽ được kiểm duyệt trước khi đăng. Vui lòng gõ tiếng Việt có dấu
Đóng lại ok
Bình luận của bạn chờ kiểm duyệt từ Ban biên tập
Một số dự báo an ninh mạng trong năm 2023
Một số dự báo an ninh mạng trong năm 2023
01/02/2023 131 lượt xem
Theo nghiên cứu của các chuyên gia bảo mật, bất ổn chính trị thế giới năm 2022 dẫn đến những thay đổi sẽ tác động đến an ninh mạng trong nhiều năm tới. Với sự xuất hiện ngày càng nhiều các cuộc tấn công tinh vi, các tổ chức cần nhanh chóng chuyển từ cách tiếp cận phản ứng sang chủ động bảo vệ an ninh mạng trong kỷ nguyên số.
Ứng dụng Sandbox để bảo mật và ngăn chặn các mối đe dọa trong hệ điều hành
Ứng dụng Sandbox để bảo mật và ngăn chặn các mối đe dọa trong hệ điều hành
31/01/2023 116 lượt xem
Hiện nay, nhiều ứng dụng sử dụng hằng ngày được áp dụng công nghệ Sandbox giúp bảo vệ hệ điều hành tránh khỏi nguy cơ các cuộc tấn công của hacker - người hiểu rõ hoạt động của hệ thống máy tính, mạng máy tính, có thể viết hay chỉnh sửa phần mềm, phần cứng máy tính để làm thay đổi, sử dụng nó với nhiều mục đích tốt/xấu khác nhau.
Phát triển kinh tế số tại Việt Nam: Kết quả và những vấn đề đặt ra hiện nay
Phát triển kinh tế số tại Việt Nam: Kết quả và những vấn đề đặt ra hiện nay
30/01/2023 129 lượt xem
Phát triển kinh tế số được xem là biện pháp tối ưu nhằm hiện thực hóa khát vọng phát triển đất nước Việt Nam hùng cường, thịnh vượng, trở thành một nước phát triển, theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Thời gian qua, Đảng và Nhà nước ta đã có nhiều chủ trương, chính sách khuyến khích phát triển kinh tế số.
Hoạt động khoa học và công nghệ ngành Ngân hàng thời gian qua và định hướng những năm tới
Hoạt động khoa học và công nghệ ngành Ngân hàng thời gian qua và định hướng những năm tới
26/01/2023 140 lượt xem
Khoa học và công nghệ (KH&CN) đã phát triển vượt bậc và trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp, nâng cao năng lực sản xuất, tạo ra của cải vật chất cho xã hội.
Năm 2022: Chuyển đổi số ngành Ngân hàng góp phần hiện thực hóa các mục tiêu của Chuyển đổi số quốc gia
Năm 2022: Chuyển đổi số ngành Ngân hàng góp phần hiện thực hóa các mục tiêu của Chuyển đổi số quốc gia
20/01/2023 251 lượt xem
Thời gian qua, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN) đã không ngừng hoàn thiện khuôn khổ pháp lý và chính sách nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho phát triển thanh toán số, ngân hàng số. Các ngân hàng thương mại (NHTM) cũng đẩy mạnh tích hợp kết nối sản phẩm, dịch vụ, nền tảng với các ngành, lĩnh vực khác để thiết lập hệ sinh thái số và cung ứng sản phẩm, dịch vụ với trải nghiệm liền mạch, xuyên suốt cho khách hàng.
Phát triển hoạt động hợp tác trong nước và quốc tế tại Học viện Ngân hàng
Phát triển hoạt động hợp tác trong nước và quốc tế tại Học viện Ngân hàng
16/01/2023 313 lượt xem
Trên tinh thần hội nhập quốc tế về giáo dục, với mục tiêu góp phần thúc đẩy phát triển nền giáo dục Việt Nam, phấn đấu đến năm 2030 trở thành trường đại học đa ngành theo định hướng nghiên cứu ứng dụng và nằm trong top các trường hàng đầu của Việt Nam, đạt chuẩn quốc tế, trong những năm vừa qua, HVNH đã tiên phong xây dựng môi trường giáo dục tiên tiến, văn minh, mang đến cơ hội học tập liên tục, khai phóng sự sáng tạo và phát triển con người toàn diện, trong đó hoạt động hợp tác trong nước và quốc tế đóng một vai trò vô cùng quan trọng.
Chuyển đổi số ngành Ngân hàng: Đóng góp tích cực vào công cuộc chuyển đổi số quốc gia
Chuyển đổi số ngành Ngân hàng: Đóng góp tích cực vào công cuộc chuyển đổi số quốc gia
10/01/2023 671 lượt xem
Bám sát định hướng, chỉ đạo của Đảng, Chính phủ, phát huy những kết quả đã đạt được và tiếp tục tinh thần thúc đẩy đổi mới, sáng tạo với phương châm lấy khách hàng làm trọng tâm, trong thời gian tới, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN) sẽ tiếp tục triển khai các định hướng, chỉ đạo của Đảng và Chính phủ để nghiên cứu, hoàn thiện quy định pháp luật thúc đẩy chuyển đổi số và khung pháp lý cho hoạt động công nghệ tài chính trong lĩnh vực ngân hàng, đóng góp tích cực vào công cuộc chuyển đổi số quốc gia, đem lại sự tiện ích cho doanh nghiệp và người dân.
Tác động của công nghệ mạng 6G và những yêu cầu đảm bảo an ninh bảo mật ứng phó với tấn công mạng
Tác động của công nghệ mạng 6G và những yêu cầu đảm bảo an ninh bảo mật ứng phó với tấn công mạng
06/01/2023 809 lượt xem
Công nghệ mạng 6G sẽ tạo điều kiện điều hành phương tiện vận chuyển một cách thông minh, giúp cắt giảm mức phát thải carbon, hơn nữa khả năng phân phối năng lượng tốt hơn sẽ nâng cao hiệu suất và tối ưu hóa. Công nghệ mạng 6G hiện vẫn đang được các cơ quan tiêu chuẩn quốc tế thảo luận, trong đó, việc nghiên cứu các phương pháp tăng cường an ninh nhằm ứng phó với các cuộc tấn công mạng là một trong ưu tiên hàng đầu khi nghiên cứu về công nghệ mạng 6G.
Siêu ứng dụng - Cơ hội và thách thức
Siêu ứng dụng - Cơ hội và thách thức
05/01/2023 1.421 lượt xem
Hiện nay, trên thế giới nói chung và Việt Nam nói riêng, hầu hết người dùng điện thoại thông minh đều cài đặt ít nhất một ứng dụng (App) để thanh toán hóa đơn hoặc ứng dụng trong các lĩnh vực như tài chính, ngân hàng. Một thuật ngữ công nghệ mới đang nổi đó là “Siêu ứng dụng” (Super App) đang rất phát triển trên thị trường, đặc biệt là trong công cuộc chuyển đổi số hiện nay. Vậy siêu ứng dụng là gì và Việt Nam có đang sở hữu một siêu ứng dụng mang tính cách mạng không?
Tự động hóa và tối ưu Logistics trong quy trình tiếp quỹ ATM
Tự động hóa và tối ưu Logistics trong quy trình tiếp quỹ ATM
03/01/2023 1.088 lượt xem
Trong thời đại của kỷ nguyên chuyển đổi số, công nghệ số được tích hợp vào mọi lĩnh vực ngân hàng để phục vụ các mục tiêu tự động hóa quy trình, tối ưu chi phí hoạt động và cải thiện chất lượng dịch vụ. Hoạt động tiếp quỹ cho hệ thống ATM (Automated Teller Machine) mang tính thường xuyên và ảnh hưởng nhiều đến chi phí hoạt động cũng như trải nghiệm dịch vụ khách hàng.
Tiền ảo trong thời đại công nghệ 4.0 và những vấn đề pháp lý đặt ra
Tiền ảo trong thời đại công nghệ 4.0 và những vấn đề pháp lý đặt ra
16/12/2022 1.902 lượt xem
Với sự phát triển mạnh mẽ của cuộc Cách mạng công nghệ lần thứ tư (CMCN 4.0), rất nhiều thành tựu khoa học mới đã ra đời, trong đó có tiền ảo (virtual currency). Ở nước ta, việc sử dụng và giao dịch bằng tiền ảo đang diễn ra khá phổ biến với tính chất phức tạp. Tuy nhiên, hiện nay, khung pháp lý điều chỉnh về tiền ảo của Việt Nam vẫn chưa được đảm bảo và còn nhiều lỗ hổng. Điều này đã gây ra nhiều khó khăn cho công tác quản lý nhà nước và rủi ro cho người sử dụng tiền ảo trong thời đại công nghệ 4.0 phát triển mạnh như hiện nay.
Chuyển đổi số trong ngân hàng truyền thống
Chuyển đổi số trong ngân hàng truyền thống
06/12/2022 2.437 lượt xem
Công nghệ số được ứng dụng rộng rãi trong các hoạt động ngân hàng và dịch vụ tài chính; trong đó bao gồm: Máy tính, mạng máy tính, truyền thông số, Internet, công nghệ thông tin và điện tử, truyền thông với phần mềm tích hợp, giúp tăng tốc độ, bảo mật hiệu quả, mang lại nhiều lợi ích cho ngân hàng và người sử dụng dịch vụ. Bài viết đưa ra các giải pháp kỹ thuật để chuyển đổi hiệu quả dữ liệu tài chính, ngân hàng truyền thống thành ngân hàng số và đưa ra ưu điểm của việc sử dụng công nghệ và ngân hàng số so với ngân hàng truyền thống.
Tương lai tiền điện tử và những quy định quản lý
Tương lai tiền điện tử và những quy định quản lý
05/12/2022 2.555 lượt xem
Trong thời gian qua, người dân ở nhiều quốc gia trên thế giới khá quan tâm đến tiền điện tử. Tương lai của tiền điện tử là một chủ đề nóng không chỉ giữa các nhà đầu tư mà còn trong xã hội, từ những nhà đầu tư lâu năm như Elon Musk cho đến những người trẻ, thậm chí cả học sinh trường trung học.
Ngân hàng ảo - Xu thế phát triển ngân hàng trong tương lai
Ngân hàng ảo - Xu thế phát triển ngân hàng trong tương lai
02/12/2022 2.612 lượt xem
Tại Việt Nam, mô hình NeoBank còn ở giai đoạn sơ khai. Với tiềm năng, thế mạnh đi đầu trong chuyển đổi số, ngành Ngân hàng đang và sẽ có những bứt phá trong việc cung ứng sản phẩm, dịch vụ trên nền tảng công nghệ hiện đại, trong đó có xu hướng phát triển NeoBank.
Giá vàngXem chi tiết

GIÁ VÀNG - XEM THEO NGÀY

Khu vực

Mua vào

Bán ra

HÀ NỘI

Vàng SJC 1L

66.500

67.320

TP.HỒ CHÍ MINH

Vàng SJC 1L

66.500

67.300

Vàng SJC 5c

66.500

67.320

Vàng nhẫn 9999

53.700

54.700

Vàng nữ trang 9999

53.500

54.300


Ngoại tệXem chi tiết
TỶ GIÁ - XEM THEO NGÀY 
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 23.250 23.620 24,639 26.018 27.488 28.660 172.43 182.55
BIDV 23.300 23.600 24,835 26.039 27,641 28.719 173.60 182.70
VietinBank 23.262 23.622 24,899 26.034 27,850 28.860 173.92 180.87
Agribank 23.280 23.595 25.147 26.225 28.899 29.682 174.11 180.63
Eximbank 23.300 23.580 25.044 25.697 28.953 29.708 172.21 176.70
ACB 23.250 23.700 25.119 26.701 29.135 29.691 172.39 176.56
Sacombank 23.268 23.653 25.081 25.996 29.089 29.855 172.56 180.11
Techcombank 23.280 23.630 25.080 25.730 28.970 29.730 171.40 177.00
LienVietPostBank 23.260 23.850 25.088 26.320 29.058 29.881 172.21 181.04
DongA Bank 23.320 23.630 26.930 27.410 31.560 32.110 203.80 210.30
(Cập nhật trong ngày)
Lãi SuấtXem chi tiết
(Cập nhật trong ngày)
Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,20
0,20
-
4,90
4,90
5,40
6,00
6,00
7,40
7,40
BIDV
0,10
-
-
-
4,90
4,90
5,40
6,00
6,10
7,40
7,40
VietinBank
0,10
0,20
0,20
0,20
4,90
4,90
5,40
6,00
6,00
7,40
7,40
Cake by VPBank
0,10
-
-
-
4,90
-
4,95
7,90
-
8,50
8,60
ACB
-
1,00
1,00
1,00
5,50
5,60
5,70
7,00
7,20
7,40
8,10
Sacombank
-
-
-
-
5,70
5,80
5,90
8,30
8,60
8,90
9,00
Techcombank
1,00
-
-
-
5,90
5,90
5,90
8,50
8,50
8,70
8,70
LienVietPostBank
-
0,10
0,10
0,10
6,00
6,00
6,00
8,10
8,10
8,50
8,50
DongA Bank
1,00
1,00
1,00
1,00
6,00
6,00
6,00
9,35
9,45
9,50
9,50
Agribank
0,50
-
-
-
4,90
4,90
5,40
6,10
6,10
7,40
7,40
Eximbank
0,20
1,00
1,00
1,00
5,60
5,70
5,80
6,80
7,10
7,40
7,50

Liên kết website
Bình chọn trực tuyến
Nội dung website có hữu ích với bạn không?