Chuyển đổi số đối với các tổ chức tín dụng là hợp tác xã - Thực trạng và vấn đề đặt ra
17/08/2022 2.866 lượt xem
Bài viết này tập trung đánh giá về thực trạng chuyển đổi số của các tổ chức tín dụng (TCTD) là hợp tác xã, đặt trong bối cảnh chung về chuyển đổi số của các ngân hàng thương mại, để thấy rõ hơn mức độ chuyển đổi số của các TCTD là hợp tác xã. Bài viết cũng đưa ra những khó khăn trong quá trình chuyển đổi số của các TCTD này; đồng thời, đặt ra những vấn đề cần tập trung giải quyết để thúc đẩy chuyển đổi số trong phân khúc các TCTD là hợp tác xã. 
 
Số hóa trong hoạt động kinh doanh của các định chế tài chính Việt Nam là xu hướng bắt buộc không thể đảo ngược. “Chương trình Chuyển đổi số quốc gia đến năm 2025, định hướng đến năm 2030” đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt (Quyết định số 749/QĐ-TTg ngày 03/6/2020) nêu rõ, tài chính - ngân hàng là một trong những lĩnh vực có tác động xã hội, liên quan hằng ngày tới người dân, thay đổi nhận thức nhanh nhất, mang lại hiệu quả, giúp tiết kiệm chi phí, cần ưu tiên chuyển đổi số trước. Triển khai thực hiện Chương trình Chuyển đổi số quốc gia đến năm 2025, định hướng đến năm 2030, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN) đã ban hành nhiều kế hoạch, chương trình hành động, chính sách nhằm tạo điều kiện cho hoạt động hệ thống ngân hàng ứng dụng công nghệ và thúc đẩy chuyển đổi số. “Việc NHNN đứng vị trí số hai trong bảng xếp hạng DTI năm 2020, trong đó chỉ số kiến tạo thể chế xếp thứ nhất cho thấy ngành Ngân hàng rất quan tâm đến vấn đề chuyển đổi số”. Kế hoạch chuyển đổi số ngành Ngân hàng Việt Nam đến năm 2025, định hướng đến năm 2030 đặt mục tiêu phát triển các mô hình ngân hàng số, gia tăng tiện ích, trải nghiệm khách hàng. Để thực hiện mục tiêu nói trên, trong thời gian tới, NHNN sẽ tập trung thực hiện một số giải pháp trọng tâm như: Chuẩn bị nguồn lực sẵn sàng cho hoạt động chuyển đổi số; tiếp tục hoàn thiện khuôn khổ pháp lý tạo điều kiện thuận lợi quá trình chuyển đổi số...
 
Trên thực tế, theo khảo sát của NHNN vào tháng 9/2020, 95% ngân hàng đã và đang xây dựng chiến lược thực hiện chuyển đổi số hoặc dự tính sẽ xây dựng và thực hiện kế hoạch này trong thời gian tới. Trong đó, 39% ngân hàng đã phê duyệt chiến lược chuyển đổi số để phát triển kinh doanh cũng như công nghệ thông tin và 42% đang xây dựng chiến lược chuyển đổi số cho mình. Để thực hiện có hiệu quả Chiến lược chuyển đổi số, đòi hỏi các TCTD phải đáp ứng được nguồn lực tài chính và con người có đủ năng lực ứng dụng và phát triển công nghệ số hóa. Qua số liệu thống kê của 10 ngân hàng thương mại (NHTM) lớn, mức đầu tư cho chuyển đổi số ước tính 15 nghìn tỷ đồng mỗi năm. Chi phí đầu tư nguồn lực hoạt động chuyển đổi số chiếm 20 - 30% tổng chi phí đầu tư hoạt động cho thấy đầu tư khá lớn. Các thành tựu của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư được các TCTD ứng dụng mạnh mẽ và rộng rãi vào các dịch vụ ngân hàng cốt lõi như thanh toán, tín dụng, tiết kiệm; đặc biệt, thanh toán trên thiết bị di động tăng trưởng mạnh hằng năm 90% về số lượng và 150% về giá trị. Các giải pháp kỹ thuật công nghệ mới như điện toán đám mây, phân tích dữ liệu (Big Data) hay tự động hóa quy trình bằng robot, ứng dụng trí tuệ nhân tạo (AI)... đang được ứng dụng tại hầu hết các ngân hàng. Trong đó, Big Data và AI được các ngân hàng sử dụng nhiều nhất để thông qua đó, phân tích được hành vi và nhu cầu của khách hàng giúp nâng cao chất lượng sản phẩm và tối ưu hóa nhu cầu của người dùng. Ứng dụng dịch vụ ngân hàng kỹ thuật số tại Việt Nam hiện đã đuổi kịp các thị trường phát triển. Tỷ lệ khách hàng cá nhân tại thị trường châu Á - Thái Bình Dương tích cực sử dụng dịch vụ ngân hàng số đã tăng từ 55% (năm 2017) lên 88% (năm 2021). Đối với thị trường Việt Nam, mức tăng trưởng này là 41% (năm 2017) lên 82% (năm 2021). Đại đa số (73%) khách hàng cá nhân Việt Nam sử dụng dịch vụ ngân hàng qua nhiều kênh khác nhau. Điều này có nghĩa là khách hàng đang sử dụng kết hợp kênh ngân hàng số với kênh truyền thống qua các chi nhánh vật lý. Ngoài ra, vấn đề về an ninh, bảo mật trong thanh toán, thông tin khách hàng cũng được các ngân hàng đặt lên hàng đầu, để nâng cao sự yên tâm của khách hàng trong việc sử dụng các dịch vụ điện tử như thanh toán qua Internet Banking, ví điện tử...
 
Đối với các TCTD là hợp tác xã, nhất là các Quỹ tín dụng nhân dân (QTDND), việc chuyển đổi số đang diễn ra khá chậm so với các NHTM. Ngân hàng Hợp tác xã Việt Nam (NHHTX - Co-opBank) đang đi đầu các TCTD là hợp tác xã trong thực hiện chuyển đổi số khi đã xây dựng Chiến lược chuyển đổi số tại NHHTX và chờ NHNN phê duyệt. Trên thực tế, từ tháng 11/2021, NHHTX triển khai các dịch vụ ngân hàng số qua các kênh giao dịch như: Vận hành ứng dụng Ngân hàng số Co-opbank Mobile Banking và chính thức ra mắt thị trường vào đầu năm 2022; chuyển đổi thẻ từ sang thẻ chíp Co-opbank Napas theo đúng lộ trình của NHNN đặt ra, với đầy đủ tính năng và sử dụng như thẻ tín dụng nội địa; tiếp tục mở rộng kênh thanh toán nhanh kết nối qua cổng thanh toán quốc gia Napas khi triển khai dịch vụ chuyển tiền bằng mã QR, chuyển tiền nhanh tại quầy; đẩy mạnh số lượng giao dịch qua cổng thanh toán của NHNN đến các QTDND. Bên cạnh đó, NHHTX cũng triển khai một loạt sản phẩm, dịch vụ ngân hàng hiện đại dành cho các QTDND, khách hàng doanh nghiệp và cá nhân như: Phát hành thẻ chíp Co-opbank Napas được cấp hạn mức thấu chi, gói tài khoản GenZ hướng đến khách hàng trẻ tuổi, mở tài khoản thanh toán số đẹp... Kế hoạch dự kiến trong năm 2022, NHHTX sẽ tiếp tục gia tăng các tiện ích, dịch vụ của ngân hàng số trên đa nền tảng: Đưa vào giải pháp an toàn bảo mật cao nhất và cho phép các thành viên của QTDND có thể mở tài khoản giống như khách hàng của các NHTM khi tham gia sử dụng ứng dụng trên Internet và điện thoại di động; triển khai các dịch vụ mới qua cổng thanh toán quốc gia Napas như cổng nạp tiền, thanh toán hóa đơn, cổng thanh toán trực tuyến và thẻ tín dụng nội địa; xây dựng hệ thống chăm sóc khách hàng tạo nguồn dữ liệu (Big Data) để phân tích, đánh giá nhu cầu của khách hàng QTDND...
 
Đối với 1.182 QTDND trên toàn quốc, với quy mô tài sản nhỏ và không đồng đều: Tổng tài sản dưới 100 tỷ đồng chiếm 43,8%; từ 100 tỷ đồng đến dưới 200 tỷ đồng chiếm 40,3%; từ 200 tỷ đồng đến dưới 500 tỷ đồng chiếm 14,4%; từ 500 tỷ đồng trở lên chiếm 1,5%. Chính vì quy mô tài sản không đồng đều mà việc đổi mới công nghệ đối với các QTDND là không giống nhau. Qua khảo sát, mức độ ứng dụng công nghệ thông tin của các QTDND đang ở mức rất thấp so với mặt bằng chung của ngành Ngân hàng. Hầu hết các QTDND chưa xây dựng Chiến lược chuyển đổi số toàn diện tại đơn vị. Về cơ bản, ngân sách đầu tư công nghệ thông tin của các QTDND không có, số tiền chi trả cho công nghệ thông tin được coi là chi phí mà không phải khoản đầu tư. 
 
Hiện nay, hạ tầng cơ sở công nghệ thông tin của các QTDND chỉ là các trang thiết bị cơ bản phục vụ các giao dịch tài chính mang tính truyền thống như máy tính, máy in, hệ thống mạng đáp ứng yêu cầu hoạt động. Việc ứng dụng công nghệ vào hoạt động của QTDND phụ thuộc toàn bộ vào đơn vị cung cấp phần mềm. Phân tích các giải pháp phần mềm sử dụng tại các QTDND cho thấy, các giải pháp rất đơn giản, ví dụ như: 
 
- Phân hệ quản lý thành viên tại QTDND: Lập hồ sơ, cập nhật và truy vấn thông tin, xử lý các giao dịch gửi - rút vốn cổ phần, tính lãi cổ phần;
 
- Phân hệ quản lý khách hàng tại QTDND: Lập hồ sơ khách hàng, cập nhật - xóa - truy vấn thông tin khách hàng;
 
- Các phân hệ liên quan nghiệp vụ như huy động và tín dụng: Khai báo và xử lý nghiệp vụ, vấn tin khách hàng;
 
- Phân hệ kế toán: Theo dõi các tài khoản kế toán (tổng hợp - chi tiết) tại QTDND, chứng từ thu - chi, xử lý kiểm tra điều chỉnh số liệu;
 
- Phân hệ báo cáo: Các báo cáo liên quan đến thành viên, khách hàng, báo cáo nghiệp vụ huy động - tín dụng tại QTDND, các báo cáo gửi NHNN, các báo cáo gửi các cơ quan khác (Trung tâm Thông tin tín dụng Quốc gia Việt Nam, Bảo hiểm tiền gửi Việt Nam).
 
Việc xử lý, tham số các nội dung như thời gian giao dịch, thời gian khóa sổ tại QTDND trên các phần mềm cung cấp chưa đồng bộ do mỗi QTDND có thể liên kết với đơn vị cung cấp phần mềm riêng. Có thể nói, kiến trúc công nghệ thông tin (kiến trúc mạng và kiến trúc phần mềm) của các QTDND đều ở mức rất cơ bản. Các phần mềm sử dụng đều là các phần mềm nghiệp vụ riêng biệt, không có khả năng kết nối và chia sẻ dữ liệu lẫn nhau. Kiến trúc an ninh thông tin, bảo mật dữ liệu ở mức rất thấp, hầu như không có gì. Đa phần các QTDND sử dụng các phần mềm diệt virus miễn phí, hệ điều hành không có bản quyền, không có chính sách quản lý mật khẩu và phân quyền người dùng. Hệ điều hành được sử dụng là Windows XP, Windows 7, Windows 10 nhưng hầu hết là phiên bản crack. Không có nhiều QTDND cài đặt hệ điều hành chuyên biệt cho máy chủ. Kiến trúc cơ sở dữ liệu (CSDL) cũng hết sức giản đơn. Phần lớn các QTDND đang sử dụng hệ quản trị CSDL SQL Server 2005; SQL Server 2008; SQL Server 2012; SQL Server 2014. Trong đó, SQL Server 2005 và SQL Server 2008 đã không còn được hỗ trợ từ Microsoft.  
 
Về nguồn nhân lực, phần lớn các QTDND không có cán bộ được đào tạo bài bản về công nghệ thông tin; do vậy, khi có sự cố, các QTDND phải thuê nhân viên IT bên ngoài đến khắc phục sự cố của hệ thống. Người hiểu biết công nghệ thông tin nhất tại hầu hết các QTDND là kế toán trưởng. Lãnh đạo QTDND hầu như không thành thạo về công nghệ thông tin. Điều này gây ra rủi ro về thông tin báo cáo không chính xác cũng như rủi ro về gian lận.
 
Từ thực trạng về công nghệ thông tin và chuyển đổi số của các TCTD là hợp tác xã cho thấy, đây là phân khúc thị trường rất khó khăn để thực hiện chuyển đổi số. Với xu hướng ứng dụng công nghệ trong hoạt động tài chính và ngân hàng hiện nay thì các QTDND cũng không thể đứng ngoài cuộc đua về đầu tư và cạnh tranh về công nghệ. Tuy nhiên, với mạng lưới QTDND trải dài trong cả nước, quy mô hoạt động không đồng đều, sự hạn chế của nguồn nhân sự có trình độ công nghệ thông tin cao, nhất là ở các vùng nông thôn, vùng sâu, vùng xa, thì việc đầu tư cho công nghệ thông tin của các QTDND nếu không được thực hiện thông qua một đầu mối triển khai nhất quán sẽ gây ra những hạn chế không được giải quyết triệt để như: Quá nhiều hệ thống Core Banking (CBS) độc lập và khác biệt, hệ thống phân tán không tập trung dữ liệu thành viên, thiếu tính liên kết giữa các QTDND... Ngoài ra, chi phí đầu tư cho Core Banking là một khoản chi phí khá lớn cho từng QTDND. Nếu chi phí này được phân bổ thành chi phí hoạt động thay vì là khoản đầu tư ban đầu thì sẽ thu hút được sự quan tâm của các QTDND trong việc đầu tư, nâng cấp Core Banking và đảm bảo các QTDND áp dụng một hệ thống Core Banking đồng nhất. 
 
Do vậy, để thực hiện chuyển đổi số đối với các TCTD là hợp tác xã đặt ra nhiều vấn đề cần được giải quyết, đó là:
 
Thứ nhất, cần thay đổi nhận thức của lãnh đạo các QTDND về tầm quan trọng của chuyển đổi số trong môi trường cạnh tranh hiện nay. Dường như trong kế hoạch phát triển kinh doanh 05 năm và hằng năm, vấn đề công nghệ thông tin không được đặt ra trước Đại hội cho thấy, lãnh đạo các QTDND còn chưa nhận thức đầy đủ tầm quan trọng của vấn đề này.
 
Thứ hai, tập trung đào tạo chất lượng nguồn nhân lực của các QTDND về công nghệ thông tin, đảm bảo họ có thể sẵn sàng kết nối với NHHTX để thống nhất áp dụng một hệ thống Core Banking.
 
Thứ ba, vấn đề có ý nghĩa quyết định nhất là tập trung nguồn lực cho chuyển đổi số của NHHTX, để NHHTX có thể trở thành trung tâm thanh toán, trung tâm ngân hàng số của các QTDND, là đầu mối hệ thống Core Banking của các QTDND. 
 
Tuy nhiên, để thực hiện chuyển đổi số một cách nhanh chóng, hiệu quả, NHHTX đang phải đối mặt với nhiều khó khăn, thách thức. Khó khăn lớn nhất trong chuyển đổi số hiện nay của NHHTX đó là nguồn lực tài chính: Chi phí đầu tư cho công nghệ thông tin để hỗ trợ chuyển đổi số một cách toàn diện là tương đối lớn, như kinh nghiệm của các NHTM, chi phí này dao động từ 15% - 20% tổng doanh thu của một ngân hàng quy mô lớn hơn rất nhiều NHHTX. Trong khi đó, vốn điều lệ của NHHTX hiện chỉ có 3.000 tỷ đồng, đặt ra một bài toán cực khó để NHHTX thực hiện chuyển đổi số toàn diện, đỡ đầu cho các QTDND. Giải quyết vấn đề này, thì rất cần có sự quan tâm của Bộ Tài chính và NHNN trong việc cấp bổ sung vốn điều lệ và hỗ trợ tài chính cho NHHTX và các QTDND tương ứng với trách nhiệm cũng như mục tiêu chuyển đổi số của NHHTX, để xây dựng cơ sở hạ tầng kỹ thuật, công nghệ thông tin, đào tạo mới, đào tạo nâng cao cho cán bộ, nhân viên của các QTDND và NHHTX... làm nền tảng chuyển đổi số phục vụ tốt cho thành viên và cộng đồng nhằm góp phần thực hiện tốt Chương trình Chuyển đổi số quốc gia đến năm 2025, định hướng đến năm 2030 và Kế hoạch chuyển đổi số ngành Ngân hàng Việt Nam đến năm 2025, định hướng đến năm 2030.
 
Khó khăn tiếp theo là NHHTX thiếu nguồn nhân sự có trình độ chuyên gia về công nghệ thông tin, thiếu kinh nghiệm quản trị công nghệ thông tin theo các thông lệ tốt: Việc áp dụng các công nghệ mới như định danh khách hàng điện tử (eKYC), AI, Blockchain, Big Data... đòi hỏi nguồn lực đầu tư lớn và nguồn nhân lực trình độ cao. Các NHTM với lợi thế về sự linh hoạt trong cơ chế, tiềm lực tài chính lớn luôn điều chỉnh và cập nhật các chính sách đãi ngộ để thu hút và giữ chân các nhân sự có chất lượng cao. Điều này tạo nên thách thức lớn cho NHHTX trong việc tuyển dụng và thu hút các nhân sự có chất lượng để tham gia vào quá trình thúc đẩy chuyển đổi số và ứng dụng công nghệ thông tin của ngân hàng. So với NHTM, các sản phẩm, dịch vụ của NHHTX còn khá đơn điệu, sức cạnh tranh yếu...
 
Tổng quan có thể thấy, chuyển đổi số của các TCTD là hợp tác xã đang là thách thức trong thực hiện “Kế hoạch chuyển đổi số ngành Ngân hàng Việt Nam đến năm 2025, định hướng đến năm 2030”; chìa khóa để giải quyết thách thức này là năng lực tài chính đi đôi với nguồn nhân lực chất lượng cao, trong đó năng lực tài chính của NHHTX có ý nghĩa quyết định nhất.

Tài liệu tham khảo:
 
1. Kế hoạch chuyển đổi số ngành Ngân hàng Việt Nam đến năm 2025, định hướng đến năm 2030.
2. Báo điện tử của Việt Nam Credit, ngày 23/12/2021 - Thực trạng chuyển đổi số của ngành Ngân hàng.
3. Một số tài liệu liên quan khác.

TS. Nguyễn Thị Kim Thanh
Phó Tổng Thư ký Hiệp hội Quỹ tín dụng nhân dân

Bình luận Ý kiến của bạn sẽ được kiểm duyệt trước khi đăng. Vui lòng gõ tiếng Việt có dấu
Đóng lại ok
Bình luận của bạn chờ kiểm duyệt từ Ban biên tập
Một số dự báo an ninh mạng trong năm 2023
Một số dự báo an ninh mạng trong năm 2023
01/02/2023 128 lượt xem
Theo nghiên cứu của các chuyên gia bảo mật, bất ổn chính trị thế giới năm 2022 dẫn đến những thay đổi sẽ tác động đến an ninh mạng trong nhiều năm tới. Với sự xuất hiện ngày càng nhiều các cuộc tấn công tinh vi, các tổ chức cần nhanh chóng chuyển từ cách tiếp cận phản ứng sang chủ động bảo vệ an ninh mạng trong kỷ nguyên số.
Ứng dụng Sandbox để bảo mật và ngăn chặn các mối đe dọa trong hệ điều hành
Ứng dụng Sandbox để bảo mật và ngăn chặn các mối đe dọa trong hệ điều hành
31/01/2023 116 lượt xem
Hiện nay, nhiều ứng dụng sử dụng hằng ngày được áp dụng công nghệ Sandbox giúp bảo vệ hệ điều hành tránh khỏi nguy cơ các cuộc tấn công của hacker - người hiểu rõ hoạt động của hệ thống máy tính, mạng máy tính, có thể viết hay chỉnh sửa phần mềm, phần cứng máy tính để làm thay đổi, sử dụng nó với nhiều mục đích tốt/xấu khác nhau.
Phát triển kinh tế số tại Việt Nam: Kết quả và những vấn đề đặt ra hiện nay
Phát triển kinh tế số tại Việt Nam: Kết quả và những vấn đề đặt ra hiện nay
30/01/2023 129 lượt xem
Phát triển kinh tế số được xem là biện pháp tối ưu nhằm hiện thực hóa khát vọng phát triển đất nước Việt Nam hùng cường, thịnh vượng, trở thành một nước phát triển, theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Thời gian qua, Đảng và Nhà nước ta đã có nhiều chủ trương, chính sách khuyến khích phát triển kinh tế số.
Hoạt động khoa học và công nghệ ngành Ngân hàng thời gian qua và định hướng những năm tới
Hoạt động khoa học và công nghệ ngành Ngân hàng thời gian qua và định hướng những năm tới
26/01/2023 139 lượt xem
Khoa học và công nghệ (KH&CN) đã phát triển vượt bậc và trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp, nâng cao năng lực sản xuất, tạo ra của cải vật chất cho xã hội.
Năm 2022: Chuyển đổi số ngành Ngân hàng góp phần hiện thực hóa các mục tiêu của Chuyển đổi số quốc gia
Năm 2022: Chuyển đổi số ngành Ngân hàng góp phần hiện thực hóa các mục tiêu của Chuyển đổi số quốc gia
20/01/2023 249 lượt xem
Thời gian qua, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN) đã không ngừng hoàn thiện khuôn khổ pháp lý và chính sách nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho phát triển thanh toán số, ngân hàng số. Các ngân hàng thương mại (NHTM) cũng đẩy mạnh tích hợp kết nối sản phẩm, dịch vụ, nền tảng với các ngành, lĩnh vực khác để thiết lập hệ sinh thái số và cung ứng sản phẩm, dịch vụ với trải nghiệm liền mạch, xuyên suốt cho khách hàng.
Phát triển hoạt động hợp tác trong nước và quốc tế tại Học viện Ngân hàng
Phát triển hoạt động hợp tác trong nước và quốc tế tại Học viện Ngân hàng
16/01/2023 312 lượt xem
Trên tinh thần hội nhập quốc tế về giáo dục, với mục tiêu góp phần thúc đẩy phát triển nền giáo dục Việt Nam, phấn đấu đến năm 2030 trở thành trường đại học đa ngành theo định hướng nghiên cứu ứng dụng và nằm trong top các trường hàng đầu của Việt Nam, đạt chuẩn quốc tế, trong những năm vừa qua, HVNH đã tiên phong xây dựng môi trường giáo dục tiên tiến, văn minh, mang đến cơ hội học tập liên tục, khai phóng sự sáng tạo và phát triển con người toàn diện, trong đó hoạt động hợp tác trong nước và quốc tế đóng một vai trò vô cùng quan trọng.
Chuyển đổi số ngành Ngân hàng: Đóng góp tích cực vào công cuộc chuyển đổi số quốc gia
Chuyển đổi số ngành Ngân hàng: Đóng góp tích cực vào công cuộc chuyển đổi số quốc gia
10/01/2023 670 lượt xem
Bám sát định hướng, chỉ đạo của Đảng, Chính phủ, phát huy những kết quả đã đạt được và tiếp tục tinh thần thúc đẩy đổi mới, sáng tạo với phương châm lấy khách hàng làm trọng tâm, trong thời gian tới, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN) sẽ tiếp tục triển khai các định hướng, chỉ đạo của Đảng và Chính phủ để nghiên cứu, hoàn thiện quy định pháp luật thúc đẩy chuyển đổi số và khung pháp lý cho hoạt động công nghệ tài chính trong lĩnh vực ngân hàng, đóng góp tích cực vào công cuộc chuyển đổi số quốc gia, đem lại sự tiện ích cho doanh nghiệp và người dân.
Tác động của công nghệ mạng 6G và những yêu cầu đảm bảo an ninh bảo mật ứng phó với tấn công mạng
Tác động của công nghệ mạng 6G và những yêu cầu đảm bảo an ninh bảo mật ứng phó với tấn công mạng
06/01/2023 808 lượt xem
Công nghệ mạng 6G sẽ tạo điều kiện điều hành phương tiện vận chuyển một cách thông minh, giúp cắt giảm mức phát thải carbon, hơn nữa khả năng phân phối năng lượng tốt hơn sẽ nâng cao hiệu suất và tối ưu hóa. Công nghệ mạng 6G hiện vẫn đang được các cơ quan tiêu chuẩn quốc tế thảo luận, trong đó, việc nghiên cứu các phương pháp tăng cường an ninh nhằm ứng phó với các cuộc tấn công mạng là một trong ưu tiên hàng đầu khi nghiên cứu về công nghệ mạng 6G.
Siêu ứng dụng - Cơ hội và thách thức
Siêu ứng dụng - Cơ hội và thách thức
05/01/2023 1.418 lượt xem
Hiện nay, trên thế giới nói chung và Việt Nam nói riêng, hầu hết người dùng điện thoại thông minh đều cài đặt ít nhất một ứng dụng (App) để thanh toán hóa đơn hoặc ứng dụng trong các lĩnh vực như tài chính, ngân hàng. Một thuật ngữ công nghệ mới đang nổi đó là “Siêu ứng dụng” (Super App) đang rất phát triển trên thị trường, đặc biệt là trong công cuộc chuyển đổi số hiện nay. Vậy siêu ứng dụng là gì và Việt Nam có đang sở hữu một siêu ứng dụng mang tính cách mạng không?
Tự động hóa và tối ưu Logistics trong quy trình tiếp quỹ ATM
Tự động hóa và tối ưu Logistics trong quy trình tiếp quỹ ATM
03/01/2023 1.087 lượt xem
Trong thời đại của kỷ nguyên chuyển đổi số, công nghệ số được tích hợp vào mọi lĩnh vực ngân hàng để phục vụ các mục tiêu tự động hóa quy trình, tối ưu chi phí hoạt động và cải thiện chất lượng dịch vụ. Hoạt động tiếp quỹ cho hệ thống ATM (Automated Teller Machine) mang tính thường xuyên và ảnh hưởng nhiều đến chi phí hoạt động cũng như trải nghiệm dịch vụ khách hàng.
Tiền ảo trong thời đại công nghệ 4.0 và những vấn đề pháp lý đặt ra
Tiền ảo trong thời đại công nghệ 4.0 và những vấn đề pháp lý đặt ra
16/12/2022 1.902 lượt xem
Với sự phát triển mạnh mẽ của cuộc Cách mạng công nghệ lần thứ tư (CMCN 4.0), rất nhiều thành tựu khoa học mới đã ra đời, trong đó có tiền ảo (virtual currency). Ở nước ta, việc sử dụng và giao dịch bằng tiền ảo đang diễn ra khá phổ biến với tính chất phức tạp. Tuy nhiên, hiện nay, khung pháp lý điều chỉnh về tiền ảo của Việt Nam vẫn chưa được đảm bảo và còn nhiều lỗ hổng. Điều này đã gây ra nhiều khó khăn cho công tác quản lý nhà nước và rủi ro cho người sử dụng tiền ảo trong thời đại công nghệ 4.0 phát triển mạnh như hiện nay.
Chuyển đổi số trong ngân hàng truyền thống
Chuyển đổi số trong ngân hàng truyền thống
06/12/2022 2.436 lượt xem
Công nghệ số được ứng dụng rộng rãi trong các hoạt động ngân hàng và dịch vụ tài chính; trong đó bao gồm: Máy tính, mạng máy tính, truyền thông số, Internet, công nghệ thông tin và điện tử, truyền thông với phần mềm tích hợp, giúp tăng tốc độ, bảo mật hiệu quả, mang lại nhiều lợi ích cho ngân hàng và người sử dụng dịch vụ. Bài viết đưa ra các giải pháp kỹ thuật để chuyển đổi hiệu quả dữ liệu tài chính, ngân hàng truyền thống thành ngân hàng số và đưa ra ưu điểm của việc sử dụng công nghệ và ngân hàng số so với ngân hàng truyền thống.
Tương lai tiền điện tử và những quy định quản lý
Tương lai tiền điện tử và những quy định quản lý
05/12/2022 2.553 lượt xem
Trong thời gian qua, người dân ở nhiều quốc gia trên thế giới khá quan tâm đến tiền điện tử. Tương lai của tiền điện tử là một chủ đề nóng không chỉ giữa các nhà đầu tư mà còn trong xã hội, từ những nhà đầu tư lâu năm như Elon Musk cho đến những người trẻ, thậm chí cả học sinh trường trung học.
Ngân hàng ảo - Xu thế phát triển ngân hàng trong tương lai
Ngân hàng ảo - Xu thế phát triển ngân hàng trong tương lai
02/12/2022 2.609 lượt xem
Tại Việt Nam, mô hình NeoBank còn ở giai đoạn sơ khai. Với tiềm năng, thế mạnh đi đầu trong chuyển đổi số, ngành Ngân hàng đang và sẽ có những bứt phá trong việc cung ứng sản phẩm, dịch vụ trên nền tảng công nghệ hiện đại, trong đó có xu hướng phát triển NeoBank.
Giá vàngXem chi tiết

GIÁ VÀNG - XEM THEO NGÀY

Khu vực

Mua vào

Bán ra

HÀ NỘI

Vàng SJC 1L

66.500

67.320

TP.HỒ CHÍ MINH

Vàng SJC 1L

66.500

67.300

Vàng SJC 5c

66.500

67.320

Vàng nhẫn 9999

53.700

54.700

Vàng nữ trang 9999

53.500

54.300


Ngoại tệXem chi tiết
TỶ GIÁ - XEM THEO NGÀY 
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 23.250 23.620 24,639 26.018 27.488 28.660 172.43 182.55
BIDV 23.300 23.600 24,835 26.039 27,641 28.719 173.60 182.70
VietinBank 23.262 23.622 24,899 26.034 27,850 28.860 173.92 180.87
Agribank 23.280 23.595 25.147 26.225 28.899 29.682 174.11 180.63
Eximbank 23.300 23.580 25.044 25.697 28.953 29.708 172.21 176.70
ACB 23.250 23.700 25.119 26.701 29.135 29.691 172.39 176.56
Sacombank 23.268 23.653 25.081 25.996 29.089 29.855 172.56 180.11
Techcombank 23.280 23.630 25.080 25.730 28.970 29.730 171.40 177.00
LienVietPostBank 23.260 23.850 25.088 26.320 29.058 29.881 172.21 181.04
DongA Bank 23.320 23.630 26.930 27.410 31.560 32.110 203.80 210.30
(Cập nhật trong ngày)
Lãi SuấtXem chi tiết
(Cập nhật trong ngày)
Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,20
0,20
-
4,90
4,90
5,40
6,00
6,00
7,40
7,40
BIDV
0,10
-
-
-
4,90
4,90
5,40
6,00
6,10
7,40
7,40
VietinBank
0,10
0,20
0,20
0,20
4,90
4,90
5,40
6,00
6,00
7,40
7,40
Cake by VPBank
0,10
-
-
-
4,90
-
4,95
7,90
-
8,50
8,60
ACB
-
1,00
1,00
1,00
5,50
5,60
5,70
7,00
7,20
7,40
8,10
Sacombank
-
-
-
-
5,70
5,80
5,90
8,30
8,60
8,90
9,00
Techcombank
1,00
-
-
-
5,90
5,90
5,90
8,50
8,50
8,70
8,70
LienVietPostBank
-
0,10
0,10
0,10
6,00
6,00
6,00
8,10
8,10
8,50
8,50
DongA Bank
1,00
1,00
1,00
1,00
6,00
6,00
6,00
9,35
9,45
9,50
9,50
Agribank
0,50
-
-
-
4,90
4,90
5,40
6,10
6,10
7,40
7,40
Eximbank
0,20
1,00
1,00
1,00
5,60
5,70
5,80
6,80
7,10
7,40
7,50

Liên kết website
Bình chọn trực tuyến
Nội dung website có hữu ích với bạn không?