Thúc đẩy tài chính toàn diện hướng tới phát triển bền vững nông nghiệp, nông thôn ở Việt Nam
11/11/2021 1.658 lượt xem
Để phát triển nông nghiệp, nông thôn bền vững trong thời gian tới, đòi hỏi phải có hệ thống các giải pháp tổng thể, từ xây dựng chính sách điều hành vĩ mô, đến các biện pháp về kinh tế, xã hội, phát triển nguồn nhân lực, nghiên cứu, ứng dụng khoa học và công nghệ để tăng năng suất, tạo ra nhiều sản phẩm xanh đáp ứng thị trường tiêu thụ trong nước và quốc tế rộng lớn...; trong đó, tài chính toàn diện được coi là một trong những trụ cột quan trọng.
 
 
Phó Thống đốc NHNN Nguyễn Kim Anh phát biểu khai mạc Hội thảo

Hội thảo khoa học Quốc gia “Thúc đẩy tài chính toàn diện hướng tới phát triển bền vững nông nghiệp, nông thôn ở Việt Nam” do Tạp chí Ngân hàng - Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN) tổ chức ngày 10/11/2021, với sự chủ trì của PGS.,TS. Nguyễn Kim Anh, Ủy viên Ban cán sự Đảng, Phó Thống đốc NHNN, đã thu hút được sự tham gia của đông đảo các chuyên gia, các nhà khoa học, nhà nghiên cứu đến từ Văn phòng Chính phủ, các bộ, ngành, Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam, các Vụ, Cục, đơn vị thuộc NHNN, các ngân hàng thương mại (NHTM), tổ chức tín dụng (TCTD), tổ chức tài chính vi mô. Hội thảo trên cơ sở phân tích, đánh giá về cơ hội phát triển, đề xuất và thực thi các giải pháp thúc đẩy tài chính toàn diện, hướng tới phát triển bền vững nông nghiệp, nông thôn, góp phần thực hiện Chiến lược tài chính toàn diện quốc gia đến năm 2025, định hướng năm 2030 của Thủ tướng Chính phủ.

Phát biểu khai mạc Hội thảo, Phó Thống đốc Nguyễn Kim Anh nhấn mạnh: Nông nghiệp, nông thôn luôn có ý nghĩa đặc biệt quan trọng đối với sự nghiệp cách mạng của Đảng ta. Trải qua nhiều giai đoạn, Đảng ta luôn chủ trương phát triển nông nghiệp, nông thôn và không ngừng nâng cao đời sống của người nông dân. Đối với ngành Ngân hàng, trong những năm qua, NHNN luôn xác định tín dụng nông nghiệp, nông thôn là một trong năm lĩnh vực ưu tiên. NHNN đã trình Chính phủ ban hành nhiều chính sách tín dụng phục vụ phát triển nông nghiệp, nông thôn như Nghị định số 14-CP ngày 02/3/1993 về chính sách cho hộ sản xuất vay vốn để phát triển nông - lâm - ngư - diêm nghiệp và kinh tế nông thôn; Nghị định số 55/2015/NĐ-CP ngày 09/6/2015 về chính sách tín dụng phục vụ phát triển nông nghiệp, nông thôn; Nghị định số 116/2018/NĐ-CP ngày 07/9/2018 sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 55/NĐ-CP… Trên cơ sở đó, các TCTD đã tập trung đầu tư vốn, tạo điều kiện thuận lợi về thủ tục, lãi suất... cho các khách hàng thuộc khu vực nông nghiệp, nông thôn. Hệ thống ngân hàng cũng hỗ trợ đắc lực cho các doanh nghiệp nông nghiệp bằng nhiều hình thức cung ứng các sản phẩm, dịch vụ tài chính như gói sản phẩm, dịch vụ cho thu mua chế biến xuất khẩu lương thực, gói sản phẩm dịch vụ dành cho hộ sản xuất...

Để có thêm cơ sở lý luận và thực tiễn, giúp cho việc đề xuất các giải pháp thúc đẩy tài chính toàn diện hướng tới phát triển bền vững nông nghiệp, nông thôn ở Việt Nam, Phó Thống đốc NHNN Nguyễn Kim Anh đề nghị các diễn giả và khách mời tập trung thảo luận các nội dung: (i) Làm rõ vai trò của tài chính toàn diện đối với phát triển bền vững khu vực nông nghiệp, nông thôn, đặc biệt là trong những xu hướng mới về toàn cầu hóa, cách mạng công nghiệp lần thứ tư (CMCN 4.0), và những diễn biến bất thường của thiên tai, dịch bệnh; (ii) Phân tích các kinh nghiệm, mô hình mang tính điển hình đã được triển khai thành công tại các nước và rút ra bài học cho Việt Nam trong việc thúc đẩy tài chính toàn diện hướng tới phát triển bền vững khu vực nông nghiệp, nông thôn; (iii) Đánh giá những thành công, hạn chế trong việc triển khai tài chính toàn diện đối với phát triển khu vực nông nghiệp, nông thôn ở Việt Nam trong thời gian qua, các giải pháp trong thời gian tới, trong đó có các giải pháp phát triển các dịch vụ tài chính ngân hàng gắn với các lĩnh vực nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao, nông nghiệp xanh, nhằm thích ứng với biến đổi khí hậu.

Toàn cảnh Hội thảo

Tại Hội thảo, PGS., TS. Nguyễn Thanh Phương - Trưởng khoa Tài chính, Học viện Ngân hàng trình bày tham luận với chủ đề: “Thúc đẩy tiếp cận tài chính toàn diện hướng đến phát triển bền vững nông nghiệp, nông thôn tại Việt Nam”, đánh giá, dịch vụ ngân hàng của các NHTM đang ngày càng phát triển tại khu vực nông thôn. Trong xu hướng phát triển nền kinh tế số hiện nay, các công ty Fintech đang dần nổi lên như một trong những đối tác cung cấp dịch tài chính đầy triển vọng ở cả khu vực thành thị và nông thôn. Số lượng sản phẩm dịch vụ ngày càng được đổi mới theo chiều hướng đa dạng, phong phú, chất lượng dịch vụ tài chính ngày càng được cải thiện nhờ công nghệ hiện đại, vừa tăng tiện ích cho người dùng, lại vừa giảm chi phí giao dịch, phù hợp với mọi đối tượng trong đó có khu vực kinh tế nông nghiệp, nông thôn, người dân vùng sâu, vùng xa. Tuy nhiên, PGS., TS. Nguyễn Thanh Phương nhận định, mạng lưới phát triển của hệ thống các TCTD tại Việt Nam vẫn còn ở mức thấp so với nước khác trong khu vực, dẫn tới còn một số hạn chế trong việc tiếp cận dịch vụ, sản phẩm tài chính của khu vực dân cư, nhất là khu vực ở nông thôn, vùng sâu, vùng xa; khuôn khổ pháp lý cho lĩnh vực Fintech chưa hoàn thiện; mạng lưới cung ứng dịch vụ phát triển chưa đồng đều; hiểu biết về tài chính của người dân ở vùng nông thôn chưa cao; việc sử dụng công nghệ của một số người dân, đặc biệt là các đối tượng đã đề cập trên còn hạn chế; sự phối kết hợp giữa các sở, ban, ngành và kết hợp giữa các tổ chức tài chính với các hiệp hội, các đơn vị viễn thông, các công ty điện, nước, công ty bảo hiểm ở các địa phương chưa chặt chẽ; công tác khảo sát, điều tra nắm bắt, tổng hợp nhu cầu vay vốn, sử dụng sản phẩm dịch vụ chưa được chú trọng đúng mức. Từ đó, PGS., TS. Nguyễn Thanh Phương đề xuất một số giải pháp sau: Mỗi vùng cần xác định cụ thể mục tiêu trong tiếp cận dịch vụ tài chính; NHNN cần hoàn thiện các văn bản pháp lý điều chỉnh hoạt động của công ty Fintech; các TCTD và các tổ chức tài chính trung gian khác cần phát triển đa dạng hóa các sản phẩm dịch vụ tài chính; mở rộng mạng lưới cung ứng dịch vụ tài chính - ngân hàng; tăng cường sự hiểu biết của người dân thông qua đẩy mạnh các hoạt động giáo dục tài chính toàn diện; các TCTD cần phối hợp với các đơn vị viễn thông trong vùng để cung ứng các sản phẩm công nghệ cao tại khu vực nông thôn; đẩy mạnh công tác khảo sát, điều tra nắm bắt, tổng hợp nhu cầu vay vốn cũng như các rào cản tiếp cận sản phẩm, dịch vụ tài chính của người dân tại khu vực nông thôn.
 

Đánh giá việc tiếp cận chính sách tín dụng của các hộ gia đình nông thôn, TS. Trần Công Thắng, Viện trưởng Viện Chính sách và chiến lược phát triển nông nghiệp, nông thôn - Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn cho rằng, trong hơn 35 năm đổi mới toàn diện đất nước, nông nghiệp Việt Nam đạt được mức tăng trưởng nhanh và ổn định; các ngành trồng trọt, chăn nuôi, lâm nghiệp và thủy sản đều có tốc độ phát triển đáng kể. Đóng góp một phần quan trọng cho sự phát triển nông nghiệp, nông thôn là sự hỗ trợ tiếp cận vốn thông qua các chính sách tín dụng. Đối với sản xuất nông nghiệp, từ năm 2010, thực hiện chính sách hỗ trợ mua máy móc, thiết bị phục vụ chế biến và giảm tổn thất sau thu hoạch đối với nông, lâm, thủy sản theo các Quyết định của Thủ tướng Chính phủ: Quyết định số 63/2010/QĐ-TTg ngày 15/10/2010, Quyết định số 65/2011/QĐ-TTg ngày 02/12/2011, Quyết định số 68/2013/QĐ-TTg ngày 14/11/2013, nhiều hộ dân đã được vay vốn đầu tư máy móc cho sản xuất, đã góp phần đáp ứng được yêu cầu cấp thiết của nông dân, nhất là vùng sản xuất lúa hàng hóa. Đến năm 2020, cho vay đầu tư máy móc cho sản xuất đạt 11.300 tỷ đồng từ vốn tín dụng Nhà nước cho 33.650 khách hàng, với trên 25.000 các loại máy móc, thiết bị nông nghiệp được các tổ chức, cá nhân đầu tư; vốn đối ứng trên 5.000 tỷ đồng. Bên cạnh đó, tín dụng chính sách xã hội của Ngân hàng Chính sách xã hội đã được triển khai đến 100% số xã, phường, thị trấn trên toàn quốc, trong đó tập trung ưu tiên cho vay khu vực dân tộc thiểu số và miền núi, vùng khó khăn, vùng sâu, vùng xa, biên giới.

Trong giai đoạn 2018 - 2020, tổng doanh số cho vay tại các xã xây dựng nông thôn mới đạt 154.345 tỷ đồng, chiếm hơn 87% tổng doanh số cho vay các chương trình tín dụng chính sách. Tổng dư nợ tại các xã xây dựng nông thôn mới đến nay đạt 190.582 tỷ đồng, chiếm tỷ lệ 86,8% tổng dư nợ, với gần 5,7 triệu khách hàng còn dư nợ. Với mục tiêu thực hiện xây dựng nông thôn mới, nguồn vốn tín dụng ngân hàng trở thành nguồn lực quan trọng, chiếm trên 50% tổng nguồn lực của các chương trình này. Cùng nguồn hỗ trợ trực tiếp từ ngân sách Nhà nước, nguồn vốn tín dụng ngân hàng đã góp phần hoàn thành sớm các mục tiêu của Chương trình Mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2016 - 2020.

Mặc dù đạt được những kết quả tích cực, song, việc tiếp cận nguồn vốn ngân hàng của nông dân vẫn gặp một số khó khăn, thách thức, các TCTD cũng gặp không ít rủi ro khi đầu tư tín dụng ở khu vực nông thôn.

TS. Trần Công Thắng cho rằng, chính sách tín dụng đối với lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn thời gian tới cần cân nhắc theo một số định hướng sau để cải thiện dịch vụ tín dụng trong nông nghiệp, nông thôn tại Việt Nam: (i) Xác định doanh nghiệp trong lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn là đối tượng khách hàng quan trọng trong chính sách tín dụng của các ngân hàng, cần tiếp tục đơn giản hóa thủ tục vay vốn của khách hàng, tăng cường kiểm tra, giám sát đối với các khoản cho vay nông nghiệp, nông thôn, bảo đảm đúng mục đích, an toàn và hiệu quả; (ii) Cần tăng cường công tác thông tin, tuyên truyền để mọi người dân, doanh nghiệp ở nông thôn nắm bắt được các chủ trương, chính sách của Nhà nước và các quy định của TCTD về cho vay đối với lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn; lợi ích của cơ cấu lại ngành nông nghiệp và xây dựng nông thôn mới; (iii) Xây dựng và triển khai những sản phẩm tín dụng phù hợp với người nông dân và đặc thù của sản xuất nông nghiệp; kịp thời triển khai các giải pháp tháo gỡ khó khăn cho khách hàng vay vốn trong lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn, cung ứng các sản phẩm tiện ích ứng dụng công nghệ mới phù hợp với nhu cầu của người dân, doanh nghiệp tại khu vực nông thôn; (iv) Các bộ, ngành tiếp tục phối hợp đẩy mạnh triển khai các giải pháp nhằm phát triển nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao, sản xuất nông nghiệp theo chuỗi giá trị, mô hình liên kết, giúp tăng giá trị gia tăng trong sản xuất, góp phần thực hiện thành công Đề án tái cơ cấu ngành nông nghiệp, đảm bảo khơi thông và chuyển tải nguồn vốn tín dụng đến người nông dân một cách hiệu quả nhất; (v) Tiếp tục thực hiện hiệu quả chính sách tín dụng trong xây dựng nông thôn mới giai đoạn tiếp theo, bố trí nguồn lực để tổ chức triển khai tốt các chương trình tín dụng chính sách xã hội đã ban hành; (vi) Các ngân hàng cần lập kế hoạch cho vay tín dụng nông thôn một cách hợp lý về thời hạn, cơ cấu vốn đầu tư, hạn mức vốn vay; (vii) Tăng cường phối hợp giữa các TCTD, đoàn thể và chính quyền địa phương hướng dẫn người dân cách xây dựng dự án vay vốn, sử dụng đồng vốn hợp lý.
 

Trong phiên thảo luận “Tổng quan về tài chính toàn diện hướng tới phát triển bền vững nông nghiệp, nông thôn ở Việt Nam”, ông Nguyễn Mạnh Cường, Phó Vụ trưởng Vụ Kinh tế tổng hợp, Văn phòng Chính phủ cho biết, trong bối cảnh dịch bệnh Covid-19 ảnh hưởng và để lại hậu quả nặng nề về kinh tế - xã hội, nhất là đối với người nghèo, nhiều nghiên cứu, khuyến nghị của quốc tế cho thấy việc triển khai Chiến lược tài chính toàn diện quốc gia sẽ giúp hỗ trợ hiệu quả các đối tượng yếu thế trong xã hội, khôi phục kinh tế, giảm bớt tác động, hậu quả của dịch bệnh. Một trong những chính sách trong Chiến lược hiện đang được triển khai và sẽ áp dụng hiệu quả đối với khu vực nông nghiệp, nông thôn đó là phát triển kênh phân phối qua điện thoại di động. Theo đề nghị của NHNN, ngày 09/3/2021, Thủ tướng Chính phủ đã ký Quyết định số 316/QĐ-TTg về việc phê duyệt triển khai thí điểm dùng tài khoản viễn thông thanh toán cho các hàng hóa, dịch vụ có giá trị nhỏ (Mobile-Money), với mục tiêu quan trọng là tăng cường việc tiếp cận và sử dụng các dịch vụ tài chính, đặc biệt tại khu vực nông thôn, miền núi, vùng sâu, vùng xa, biên giới và hải đảo của Việt Nam, góp phần phát triển hoạt động thanh toán không dùng tiền mặt. Đối tượng ưu tiên của Mobile-Money là những người chưa sử dụng dịch vụ ngân hàng, chưa có tài khoản ngân hàng tại các địa bàn thuộc khu khu vực nông thôn, miền núi, vùng sâu, vùng xa, biên giới và hải đảo của Việt Nam... những nơi chưa tiếp cận được dịch vụ tài chính, mạng lưới ngân hàng. Người dân vùng nông thôn, vùng sâu, vùng xa có thể sử dụng điện thoại di động để thanh toán cho các hàng hóa, dịch vụ, rút tiền, trả tiền.

Ông Nguyễn Mạnh Cường cho rằng, đây là chính sách quan trọng, tạo dấu ấn trong năm 2021, việc triển khai thí điểm sẽ đem lại kết quả rất lớn, mạng lưới của công ty viễn thông sẽ hỗ trợ việc cung cấp giải pháp tài chính toàn diện đến người dân, phổ cập nhanh hiệu quả với chi phí thấp hơn giúp đạt được mục tiêu chiến lược phát triển tài chính toàn diện quốc gia.

 TS. Nguyễn Thị Hiền, Phó Viện trưởng Viện Chiến lược ngân hàng cho biết, năm 2020 là năm đầu tiên triển khai thực hiện Chiến lược tài chính toàn diện quốc gia. Sau hơn 01 năm triển khai, Chiến lược đã đạt được những kết quả nhất định: Đã hoàn thiện khuôn khổ pháp lý thông qua việc ban hành 01 Nghị quyết, 03 Nghị định, 03 Quyết định và 15 Thông tư thực hiện các mục tiêu tài chính toàn diện; phát triển đa dạng các tổ chức cung ứng, kênh phân phối các sản phẩm, dịch vụ tài chính cơ bản và hoàn thiện cơ sở hạ tầng tài chính, cũng như chủ động triển khai các chương trình tuyên truyền, giáo dục tài chính và tăng cường bảo vệ người tiêu dùng tài chính. Đặc biệt, có 39 tổ chức không phải là ngân hàng được NHNN cấp Giấy phép hoạt động cung ứng dịch vụ trung gian thanh toán; các TCTD Việt Nam đang tích cực triển khai chuyển đổi số. Trong bối cảnh dịch bệnh Covid-19, Bộ Tài chính đã trình Thủ tướng Chính phủ  về việc kéo dài thời gian thực hiện hỗ trợ phí bảo hiểm nông nghiệp đến ngày 31/12/2021; NHNN đã 03 lần giảm lãi suất cho vay ngắn hạn bằng đồng Việt Nam đối với lĩnh vực ưu tiên, trong đó có lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn.

Đối với lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn, đến ngày 31/12/2020, tỷ trọng dư nợ tín dụng nông nghiệp, nông thôn đạt mức 24,77% . Kết quả này cho thấy có thể đạt được mục tiêu cụ thể đề ra tại Chiến lược tài chính toàn diện là 25% vào cuối năm 2025. Thời gian qua, một số chương trình, chính sách tín dụng nông thôn đặc thù, một số mặt hàng nông sản Việt Nam có thế mạnh trong sản xuất và xuất khẩu và Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới đã được triển khai hiệu quả; mạng lưới chi nhánh, phòng giao dịch được mở rộng độ bao phủ tại khu vực vừng sâu, vùng xa, hải đảo…

Tuy nhiên, theo TS. Nguyễn Thị Hiền, qua hơn 1 năm triển khai thực hiện Chiến lược, một số tồn tại, hạn chế được xác định như: (i) Khuôn khổ pháp lý hiện hành mặc dù liên tục được bổ sung, hoàn thiện nhưng vẫn chưa bắt kịp đòi hỏi của thực tiễn, vẫn còn thiếu những quy định và hướng dẫn cụ thể về bảo hiểm vi mô, chính sách bảo hiểm nông nghiệp; còn thiếu những hướng dẫn cụ thể về bảo vệ người tiêu dùng tài chính; (ii) Mạng lưới chi nhánh, phòng giao dịch của các TCTD tại các địa bàn nông thôn, vùng sâu, vùng xa còn hạn chế, các TCTD còn gặp khó khăn khi phát triển mạng lưới tại các địa bàn này do đặc trưng mật độ dân số thấp, kinh tế kém phát triển, trình độ dân trí chưa cao. Hệ thống POS/ATM cũng phân bố chưa đồng đều, hạn chế ở địa bàn nông thôn, vùng sâu, vùng xa; (iii) Các sản phẩm, dịch vụ tài chính hiện nay còn chưa đa dạng, phong phú để có thể đáp ứng nhu cầu của một số phân khúc khách hàng cá nhân là mục tiêu của tài chính toàn diện (như người nghèo, người thu nhập thấp, phụ nữ, người về hưu, sinh viên…); (iv) Số lượng tổ chức tài chính vi mô (TCVM) còn ít, phạm vi và quy mô hoạt động còn khiêm tốn, khả năng quản trị điều hành còn hạn chế, chưa phát huy mạnh mẽ vai trò của tổ chức TCVM và các chương trình, dự án TCVM đối với tài chính toàn diện, việc huy động các nguồn vốn của các tổ chức TCVM vẫn chưa được đa dạng hóa; (v) Việc kết nối thông tin của ngành Ngân hàng vẫn đang trong quá trình triển khai kết nối thông tin với Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư do Bộ Công an quản lý; cơ sở dữ liệu về tài chính toàn diện vẫn chưa hoàn thiện; công tác truyền thông về Chiến lược và giáo dục tài chính tuy đã chú trọng nhưng hiệu quả còn khiêm tốn, một số chương trình hỗ trợ kỹ thuật với các tổ chức quốc tế chưa triển khai được.

Để công tác triển khai thực hiện Chiến lược có hiệu quả trong thời gian tới, theo TS. Nguyễn Thị Hiền, cần phải có sự thống nhất, đồng bộ, lan tỏa mạnh mẽ tinh thần thực hiện Chiến lược của tất cả các bộ, ngành, địa phương, các cơ quan có liên quan, song song với việc khắc phục những tồn tại, hạn chế nêu trên.

Bà Hà Thu Giang, Phó Vụ trưởng Vụ Tín dụng các ngành kinh tế NHNN chia sẻ về các chính sách hỗ trợ tín dụng của NHNN đối với người dân, doanh nghiệp ở khu vực nông nghiệp, nông thôn, đặc biệt trong bối cảnh đại dịch Covid-19. Theo đó, ngành Ngân hàng đã có những chính sách như áp dụng trần lãi suất cho vay tối đa bằng đồng Việt Nam đối với các lĩnh vực ưu tiên, trong đó có lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn (với mức lãi suất 4,5%/năm). Bên cạnh đó, NHNN đã chủ động thực hiện các biện pháp tháo gỡ cho khách hàng gặp khó khăn do thiên tai, dịch bệnh (dịch tả lợn châu Phi, bão lũ ở miền Trung, hạn hán, xâm nhập mặn ở đồng bằng sông Cửu Long…) như cơ cấu nợ, xem xét miễn, giảm lãi, cho vay mới. Đặc biệt, trong bối cảnh ảnh hưởng của dịch Covid-19 tới mọi mặt của nền kinh tế, NHNN cùng các TCTD đã chủ động thực hiện các biện pháp về tín dụng, lãi suất, thanh toán để tháo gỡ khó khăn, khôi phục sản xuất kinh doanh cho người dân, doanh nghiệp, trong đó có lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn; quyết liệt tháo gỡ khó khăn trong việc thu mua lúa gạo ở các tỉnh đồng bằng sông Cửu Long, giúp tiêu thụ lúa gạo cho bà con nông dân. Dư nợ cho vay lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn giai đoạn 2016 - 2020 luôn đạt tốc độ tăng trưởng bình quân trên 18%, và mức tăng trưởng này luôn cao hơn so với tốc độ tăng trưởng tín dụng chung của nền kinh tế.

Đến ngày 30/9/2021, dư nợ cho vay lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn đạt 2,48 triệu tỷ đồng, tăng 9,2% so với cùng kỳ năm 2020. Đây là mức tăng trưởng khá và tỷ trọng cho vay lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn chiếm khoảng là 25,1%, tương ứng với mục tiêu đề ra tại Chiến lược quốc gia về tài chính toàn diện. Trong dư nợ cho vay lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn, tỷ trọng cho vay của cá nhân, hộ gia đình chiếm 66%, doanh nghiệp chiếm khoảng 33%, phần còn lại là cho vay hợp tác xã, chủ trang trại.

Kết quả thực hiện các giải pháp tháo gỡ khó khăn cho khách hàng trong bối cảnh dịch Covid-19, các TCTD đã cơ cấu, giữ nguyên nhóm nợ cho các khách hàng bị ảnh hưởng do dịch Covid-19 là trên 250 nghìn tỷ đồng. Các TCTD đã miễn, giảm, hạ lãi suất trên 3,5 triệu tỷ đồng với 1,8 triệu khách hàng, trong đó, số lượng khách hàng cá nhân là 1,6 triệu tỷ đồng. Cho vay mới 1,2 triệu khách hàng với doanh số lũy kế đạt trên 7 triệu tỷ đồng, trong đó số khách hàng cá nhân tiếp cận cho vay mới là gần 1 triệu tỷ đồng. Có thể nói, các khách hàng cá nhân, hộ gia đình ở khu vực nông nghiệp, nông thôn đã được hưởng chính sách rất đồng bộ, quyết liệt của ngành Ngân hàng thời gian qua.

Trình bày tham luận tại Hội thảo với nội dung “Chuyển đổi số và thực hành tài chính bền vững trong lĩnh vực nông nghiệp: Vai trò của hệ thống ngân hàng”, PGS., TS. Bùi Thị Mai Hoài, Viện trưởng Viện Tài chính bền vững (SFI), Trường Đại học Kinh tế TP. Hồ Chí Minh đã chia sẻ, chuyển đổi số và kinh doanh bền vững trở thành con đường phát triển chính cho các doanh nghiệp trong nền kinh tế hiện đại, đặc biệt là đối với các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực nông nghiệp, một lĩnh vực chịu ảnh hưởng nặng nề và trực tiếp từ biến đổi khí hậu, có đóng góp lớn trong việc gây ra các vấn đề môi trường và sức khỏe cộng đồng. Tận dụng lợi thế của các công nghệ mới để thu thập và phân tích dữ liệu, từ đó đưa ra được các quyết định tài chính và đầu tư vừa đảm bảo được mục tiêu kinh doanh của các doanh nghiệp nhưng vẫn lồng ghép được mục tiêu xã hội và môi trường. Hệ thống ngân hàng - đặc biệt là ngân hàng trung ương, trở thành bên liên quan có vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy nông nghiệp bền vững thông qua việc định hướng và thiết lập các nguyên tắc tài trợ cho các dự án nông nghiệp.

Trên cơ sở thúc đẩy doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực nông nghiệp chuyển đổi số và thực hành tài chính bền vững để đề xuất các giải pháp mà ngành Ngân hàng cần triển khai nhằm thúc đẩy phát triển nông nghiệp sạch gắn liền với thích ứng biến đổi khí hậu và kết nối bền vững với chuỗi giá trị nông sản toàn cầu trong bối cảnh CMCN 4.0.

Trong Phiên thảo luận “Giải pháp thúc đẩy tài chính toàn diện hướng tới phát triển bền vững nông nghiệp, nông thôn ở Việt Nam”, ông Lê Xuân Trung, Phó Tổng Giám đốc Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam (Agribank) cho biết, để thúc đẩy tài chính toàn diện khu vực nông nghiệp, nông thôn, những năm qua, Agribank luôn xác định nông nghiệp, nông thôn là thị trường truyền thống của ngân hàng, đồng thời luôn giữ vai trò chủ lực trên thị trường vốn và tín dụng cho nông nghiệp, nông thôn, luôn nỗ lực tìm mọi cách để đưa dịch vụ ngân hàng đến các địa bàn nông thôn vùng sâu, vùng xa của đất nước, góp phần đầy lùi tín dụng đen. Tỷ trọng cho vay nông nghiệp, nông thôn của Agribank chiếm 70%. Vốn tín dụng của Agribank phủ kín đến 100% các xã, góp phần thúc đẩy tài chính toàn diện hướng tới phát triển bền vững nông nghiệp, nông thôn, đóng góp tích cực vào sự nghiệp xóa đói, giảm nghèo và xây dựng nông thôn mới. Bảy chương trình tín dụng chính sách và hai chương trình mục tiêu quốc gia về nông thôn mới và giảm nghèo bền vững đã được Agribank triển khai thực hiện có hiệu quả. Đến nay, Agribank đã có 39 triệu khách hàng trong lĩnh vực “tam nông”. Hằng năm, Agribank đều dành hàng ngàn tỷ đồng để cho vay hỗ trợ lãi suất đối với các đối tượng ưu tiên trong lĩnh vực nông nghiệp nông thôn, góp phần tạo điều kiện thúc đẩy tăng trưởng kinh tế - xã hội. Agribank đã xây dựng các chính sách và giải pháp để tạo điều kiện tăng cơ hội tiếp cận các dịch vụ tài chính của người dân, đặc biệt là trong khu vực nông nghiệp, nông thôn, hướng đến phát triển bền vững. Đặc biệt, Agribank đã triển khai thành công dịch vụ ngân hàng lưu động, góp phần đem dịch vụ ngân hàng hiện đại đến với người dân, đặc biệt là đối với người dân vùng sâu, vùng xa, vùng khó khăn bằng ô tô lưu động một cách nhanh chóng, thuận tiện, hiệu quả.

Ngoài ra, Agribank đã tích cực trong thực hiện chuyển đổi số, tiếp cận với các công ty công nghệ để cho ra đời các sản phẩm dịch vụ ngân hàng hiện đại nhằm phục vụ tốt nhất các sản phẩm, dịch vụ cho khách hàng…

Theo chia sẻ của ông Nguyễn Quốc Cường, Chủ tịch Hội đồng quản trị Ngân hàng Hợp tác xã (HTX) Việt Nam, với thông điệp “không để ai bị bỏ lại phía sau”, mô hình Ngân hàng HTX với hệ thống Quỹ tín dụng nhân dân (QTDND) được đánh giá là mô hình tương trợ cộng đồng rất phù hợp với mục tiêu tài chính toàn diện, cần phải được nhân rộng ở khu vực nông nghiệp, nông thôn. Tham gia vào Chiến lược tài chính toàn diện quốc gia, hệ thống Ngân hàng HTX với 32 chi nhánh và gần 1.200 QTDND, với khoảng 2 triệu thành viên, tổng nguồn vốn khoảng gần 200 ngàn tỷ đồng, trong đó cho vay khoảng trên 150 ngàn tỷ đồng, chủ yếu cho vay khu vực nông nghiệp nông thôn. Hoạt động của QTDND và Ngân hàng HTX thời gian qua đã góp phần thực hiện các chủ trương, chính sách của Đảng, Chính phủ, NHNN về đầu tư phát triển cho “tam nông”, đẩy mạnh quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế, qua đó góp phần tích cực vào công cuộc xóa đói giảm nghèo và hạn chế tín dụng đen ở khu vực nông nghiệp, nông thôn.

Đặc điểm và sứ mệnh của Ngân hàng HTX và hệ thống QTDND rất phù hợp với thông điệp của tài chính toàn diện, sinh ra vì thành viên, hướng đến phục vụ các đối tượng khó tiếp cận được với các dịch vụ tài chính, ngân hàng, đặc biệt là những người dân vùng sâu, vùng xa, với chi phí hợp lý và thuận tiện nhất. Tuy nhiên, để khai thác được thế mạnh của hệ thống, cần phải xác định rõ 3 mục tiêu lớn, đó là: Thứ nhất, tập trung hoàn thiện hành lang pháp lý cho hệ thống QTDND, đưa các QTDND về đúng với mục đích ban đầu là tương trợ các thành viên phát triển sản xuất kinh doanh và đời sống, để làm sao khai thác được nguồn vốn tại chỗ và cho vay tại chỗ, đặc biệt là nhằm hướng đến mục tiêu mà trong Chiến lược tài chính toàn diện Quốc gia đưa ra, là phát triển các dịch vụ tài chính sâu, rộng, mở rộng phủ khắp các vùng, các nơi có QTDND và Ngân hàng HTX hoạt động. Bên cạnh đó là tự hoàn thiện hệ thống hành lang pháp lý hoạt động của Ngân hàng HTX, đảm bảo ngân hàng HTX phát huy tốt vai trò của mình trong việc kết nối các TCTD cũng như toàn hệ thống QTDND, thực hiện sứ mệnh NHNN đã giao cho, đảm bảo hệ thống QTDND hoạt động an toàn, ổn định và đặc biệt hỗ trợ hiệu quả cho các thành viên QTDND; Thứ hai, tăng cường năng lực tài chính và công nghệ, đẩy mạnh chuyển đổi số. Trong bối cảnh chuyển đổi số sâu và rộng, chắc chắn hệ thống QTDND và Ngân hàng HTX không thể đứng ngoài bối cảnh này. Đối với QTDND để tự chuyển đổi là rất khó, do tiềm lực còn rất hạn chế, khoảng cách địa lý lại xa nhau, do đó đòi hỏi trách nhiệm của Ngân hàng HTX trong việc đầu mối, hỗ trợ chuyển đổi số. Vừa qua, hệ thống cũng đã kết nối mạng lưới thanh toán đối với 700 QTDND, sắp tới sẽ đưa vào khai thác hệ thống Mobile Banking cũng như hệ thống thanh toán nhanh kết nối qua Cổng thanh toán quốc gia NAPAS; Thứ ba, thay đổi tư duy đào tạo, bồi dưỡng cán bộ trong hệ thống. Muốn chuyển đổi số thì phải thay đổi tư duy và đào tạo liên tục, nâng cấp hệ thống quản trị, tái cơ cấu tổ chức để có thể phù hợp với Chiến lược phát triển của Ngành cũng như Chiến lược tài chính toàn diện.

Chia sẻ về kết quả của tín dụng chính sách xã hội đối với công cuộc giảm nghèo, an sinh xã hội và góp phần xây dựng nông thôn mới, bà Trần Lan Phương, Phó Tổng Giám đốc Ngân hàng Chính sách xã hội Việt Nam (NHCSXH) cho biết, thời gian qua, chính sách tín dụng ưu đãi đối với người nghèo và các đối tượng chính sách khác do NHCSXH triển khai thực sự là một chính sách quan trọng và hiệu quả đối với xã hội. NHCSXH đã luôn nhận được sự quan tâm chỉ đạo của Đảng và Nhà nước, đặc biệt là NHNN Việt Nam, các cấp ủy đảng, chính quyền và sự phối hợp chặt chẽ của các tổ chức chính trị - xã hội trong trong việc triển khai nhiệm vụ đưa nguồn vốn tín dụng chính sách đến 100% các xã, phường, thị trấn trên toàn quốc, tạo điều kiện thuận lợi cho người dân được thụ hưởng các chính sách ưu đãi của Đảng và Chính phủ. Đặc biệt, Ban Bí thư Trung ương Đảng đã ban hành Chỉ thị số 40-CT/TW ngày 22/11/2014 và Kết luận số 06-KL/TW ngày 10/6/2021 về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với tín dụng chính sách xã hội.

Từ 03 chương trình tín dụng nhận bàn giao, đến nay, NHCSXH đã và đang triển khai hơn 20 chương trình tín dụng chính sách và một số chương trình, dự án do các địa phương, các tổ chức và cá nhân trong và ngoài nước ủy thác cho NHCSXH thực hiện. Trong 19 năm qua, đã có hơn 40.385 nghìn lượt hộ nghèo, hộ cận nghèo và các đối tượng chính sách khác được vay vốn NHCSXH, với tổng doanh số cho vay đạt 722.490 tỷ đồng, đã giúp trên 40 triệu lượt hộ nghèo và các đối tượng chính sách khác được tiếp cận vốn tín dụng chính sách. Đến ngày 31/10/2021, tổng dư nợ đạt 243.191 tỷ đồng. Trong đó, nhóm chương trình tín dụng phục vụ nhu cầu sản xuất, kinh doanh tạo sinh kế và việc làm dư nợ đạt 180 ngàn tỷ đồng, chiếm 74% tổng dư nợ; nhóm chương trình tín dụng phục vụ đời sống, sinh hoạt dư nợ đạt 63 nghìn tỷ đồng, chiếm tỷ trọng 26% tổng dư nợ.

Vốn tín dụng chính sách đã góp phần giúp trên 6,1 triệu hộ vượt qua ngưỡng nghèo; thu hút, tạo việc làm cho hơn 5 triệu lao động, gần 134 nghìn lao động thuộc gia đình chính sách được vay vốn đi xuất khẩu lao động có thời hạn ở nước ngoài; hỗ trợ trả lương cho hơn 189 nghìn người lao động bị ảnh hưởng do dịch Covid-19; hơn 3,7 lượt học sinh, sinh viên có hoàn cảnh khó khăn được vay vốn học tập; xây dựng hơn 5 triệu công trình nước sạch và vệ sinh môi trường ở nông thôn; gần 105 nghìn căn nhà cho hộ gia đình vượt lũ vùng đồng bằng sông Cửu Long, hơn 606 nghìn căn nhà cho hộ nghèo và các hộ gia đình chính sách, trên 15 nghìn căn nhà phòng, tránh bão, lụt khu vực miền Trung, hơn 18 nghìn căn nhà ở xã hội;...

Vốn tín dụng chính sách đã giúp cho người nghèo và các đối tượng chính sách khác tiếp cận với nguồn vốn tín dụng ưu đãi của Nhà nước, góp phần ngăn chặn tệ cho vay nặng lãi ở nông thôn, hạn chế tác động tiêu cực của tín dụng đen; làm quen với việc vay, trả nợ ngân hàng, thay đổi cơ bản nhận thức, cách thức sản xuất, kinh doanh sử dụng vốn có hiệu quả, góp phần cải thiện nâng cao chất lượng cuộc sống; góp phần giảm tỷ lệ hộ nghèo giai đoạn 2001 - 2005 từ 17% xuống 7%; giai đoạn 2005 - 2010 từ 22% xuống 9,45%; giai đoạn 2011 - 2015 từ  14,2% xuống 4,25% cuối năm 2015; giai đoạn 2015 - 2020 từ 9,92% xuống 2,75% cuối năm 2020.

Hiệu quả của tín dụng chính sách xã hội đã góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội theo định hướng của Đảng và Nhà nước; thực hiện thành công chương trình mục tiêu quốc gia giảm nghèo bền vững, xây dựng nông thôn mới, bảo đảm an sinh xã hội, ổn định chính trị, trật tự xã hội, an ninh quốc phòng; phát triển nguồn nhân lực, giảm thiểu các tác động của biến đổi khí hậu; tập hợp lực lượng, phát triển hội viên của các tổ chức chính trị - xã hội; củng cố niềm tin của Nhân dân đối với Đảng và Nhà nước.

Tại Hội thảo, bà Nguyễn Thị Thu Hiền, Ủy viên Đoàn Chủ tịch Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam, Tổng Giám đốc Tổ chức Tài chính vi mô Tình thương (TYM) chia sẻ về vai trò của tổ chức tài chính vi mô trong việc thúc đẩy tài chính toàn diện khu vực nông nghiệp, nông thôn, trải qua gần 30 năm hoạt động, TYM đã phục vụ hơn 1,6 triệu lượt chị em phụ nữ ở địa bàn chủ yếu là nông thôn, với số vốn phát ra khoảng 21.500 tỷ đồng, tỷ lệ hoàn trả luôn đạt 99,99% (trừ năm 2020 và 2021); không những hoàn trả đầy đủ mà chị em còn có tích lũy, gửi tiết kiệm vào TYM. Huy động tiết kiệm từ thành viên, khách hàng của TYM tăng dần đều hằng năm, hiện nay trong cơ cấu vốn của TYM thì huy động từ thành viên, khách hàng của TYM chiếm đến hơn 70%, qua đó có thể khẳng định, tài chính vi mô đóng góp một phần quan trọng vào công cuộc xóa đói giảm nghèo và phát triển kinh tế - xã hội của đất nước.

Thực tế cho thấy, hoạt động của các tổ chức, chương trình, dự án tài chinh vi mô chủ yếu trên địa bàn nông thôn và bán đô thị, do đó đã trực tiếp góp phần tăng tỷ lệ người trưởng thành ở nông thôn gửi tiết kiệm ở TCTD, tăng dư nợ tín dụng phục vụ phát triển nông nghiệp nông thôn. Đây cũng là mục tiêu mà Chiến lược tài chính toàn diện quốc gia hướng tới.

Bên cạnh đó, cách thức hoạt động của tài chính vi mô bền vững ở chỗ, vừa cho vay, vừa đồng hành trong quá trình sử dụng đồng vốn vay của khách hàng, thông qua nhiều hoạt động nâng cao năng lực, trong đó đặc biệt quan tâm tới việc hướng dẫn sử dụng vốn vay hiệu quả, tạo thu nhập; đồng thời tiết kiệm, biết chi tiêu cho gia đình. Hoạt động này của tài chính vi mô đã trực tiếp góp phần thực hiện mục tiêu nâng cao năng lực và hiểu biết tài chính của người dân.

Tuy nhiên, hiện nay, khả năng tiếp cận các dịch vụ tài chính của người dân, đặc biệt là những người nghèo, thu nhập thấp, những người yếu thế vẫn còn nhiều hạn chế, mà nguyên nhân là do hạn chế về cơ hội tiếp cận thông tin về các dịch vụ tài chính chính thức, tài chính số, về thủ tục, hồ sơ vay vốn, về rào cản về lãi suất.

Theo bà Nguyễn Thị Thu Hiền, thời gian tới để hỗ trợ người dân tiếp cận được với các dịch vụ tài chính một cách hiệu quả nhất, các TCTD cần tiếp tục mở rộng địa bàn hoạt động khu vực nông nghiệp, nông thôn, vùng sâu, vùng xa, đồng thời đẩy mạnh công tác truyền thông để người dân có đầy đủ thông tin về các dịch vụ tài chính chính thức; cần đơn giản hóa các quy trình, thủ tục, điều kiện vay vốn, đẩy mạnh ứng dụng công nghệ số vào hoạt động để giảm chi phí và có điều kiện hỗ trợ trở lại cho khách hàng. Ngoài ra, cần nghiên cứu, cho phép các tổ chức tài chính vi mô có đủ điều kiện được thực hiện nghiệp vụ thanh toán để có thể phục vụ nhu cầu thanh toàn, giải ngân, gửi tiết kiệm của người nghèo, thu nhập thấp…

Qua ý kiến của các diễn giả tại Hội thảo, Phó Thống đốc NHNN Nguyễn Kim Anh cho rằng, Hội thảo đã bổ sung thêm cho bức tranh về tài chính toàn diện của Việt Nam, đặc biệt là đi sâu vào lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn. Các ý kiến đề xuất đều có tính ứng dụng cao, trong đó, chú trọng các giải pháp về ứng dụng công nghệ hiện đại để tăng cường khả năng cung cấp dịch vụ tài chính ngân hàng cho khu vực nông nghiệp, nông thôn, gắn liền với các giải pháp về giáo dục tài chính, xây dựng các chính sách về bảo vệ người tiêu dùng tài chính. Để đảm bảo tính hiệu quả của việc triển khai các giải pháp, cần đặc biệt nhấn mạnh tính đồng bộ về chính sách, sự phối hợp chặt chẽ giữa các cơ quan bộ, ban ngành, các tổ chức chính trị xã hội.

Phó Thống đốc NHNN Nguyễn Kim Anh đề nghị các nhà nghiên cứu, nhà khoa học tiếp tục dành sự quan tâm đối với chủ đề này, thường xuyên có những đóng góp, kiến nghị để giúp NHNN nói riêng và các cơ quan, bộ, ngành nói chung ban hành chính sách phù hợp và hiệu quả; các đơn vị thuộc NHNN, các TCTD cần phát huy tinh thần sáng tạo, chủ động tham mưu, đề xuất các giải pháp gắn liền với thực tiễn công tác; giao Viện Chiến lược ngân hàng và Vụ Hợp tác quốc tế - hai đơn vị đầu mối được NHNN giao đề xuất những chính sách liên quan Chiến lược tài chính toàn diện sẽ tổng hợp tất cả các ý kiến tham luận của diễn giả, nghiên cứu các bài viết tham luận trong Kỷ yếu Hội thảo báo cáo Ban lãnh đạo NHNN để đề xuất tại cuộc họp Ban Chỉ đạo quốc gia về tài chính toàn diện trong thời gian tới.
 
Phương Hiền
Bình luận Ý kiến của bạn sẽ được kiểm duyệt trước khi đăng. Vui lòng gõ tiếng Việt có dấu
Đóng lại ok
Bình luận của bạn chờ kiểm duyệt từ Ban biên tập
Hệ thống ngân hàng tỉnh Thừa Thiên Huế đồng hành cùng người dân, doanh nghiệp
Hệ thống ngân hàng tỉnh Thừa Thiên Huế đồng hành cùng người dân, doanh nghiệp
30/09/2022 86 lượt xem
Trong hai năm 2020 - 2021, dịch bệnh Covid-19 đã ảnh hưởng nghiêm trọng tới mọi mặt đời sống kinh tế - xã hội. Cùng với cả nước, Đảng bộ, chính quyền và nhân dân tỉnh Thừa Thiên Huế đã đồng tâm, đồng sức tham gia chiến dịch phòng, chống dịch Covid-19 ở quy mô lớn, đẩy lùi dịch bệnh.
Chương trình tín dụng chính sách:  20 năm phát huy hiệu quả
Chương trình tín dụng chính sách: 20 năm phát huy hiệu quả
27/09/2022 882 lượt xem
Chương trình tín dụng chính sách với nòng cốt là các hoạt động cho vay tại Ngân hàng Chính sách xã hội (NHCSXH) đã và đang mang lại ý nghĩa nhân văn sâu sắc, phù hợp với thực tiễn, là trụ cột quan trọng trong chương trình mục tiêu giảm nghèo bền vững, góp phần hạn chế “tín dụng đen”, tạo nguồn lực cho tỉnh An Giang thực hiện các chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới.
Tín dụng chính sách xã hội: Góp phần giảm nghèo ở Thủ đô Kháng chiến
Tín dụng chính sách xã hội: Góp phần giảm nghèo ở Thủ đô Kháng chiến
23/09/2022 1.325 lượt xem
Tuyên Quang là tỉnh miền núi phía Bắc, có địa hình đa dạng và phức tạp, đồi núi chiếm hơn 73% diện tích với 02/07 huyện nghèo, 57/138 xã vùng khó khăn; Tuyên Quang có 213.357 hộ gia đình với 867.000 nhân khẩu. Trong 20 năm qua, đã có 825.906 lượt hộ nghèo và các đối tượng chính sách trên địa bàn tỉnh Tuyên Quang được vay vốn từ Ngân hàng Chính sách xã hội (NHCSXH) để vươn lên thoát nghèo bền vững.
Tiếp tục triển khai và đẩy mạnh công tác xử lý nợ xấu - Góp phần khơi thông nguồn vốn cho nền kinh tế
Tiếp tục triển khai và đẩy mạnh công tác xử lý nợ xấu - Góp phần khơi thông nguồn vốn cho nền kinh tế
21/09/2022 633 lượt xem
Hoàn thiện khuôn khổ pháp lý về xử lý nợ xấu luôn được Đảng, Quốc hội, Chính phủ và Thủ tướng Chính phủ quan tâm, quyết liệt chỉ đạo thực hiện để đẩy nhanh tiến độ, hiệu quả công tác xử lý nợ xấu của hệ thống các tổ chức tín dụng (TCTD), góp phần khơi thông nguồn vốn trong hệ thống ngân hàng, qua đó tăng cường mức độ an toàn, lành mạnh của hệ thống ngân hàng và thúc đẩy tăng trưởng nền kinh tế.
Hành trình 20 năm nỗ lực với sứ mệnh vì người nghèo và các đối tượng chính sách khác
Hành trình 20 năm nỗ lực với sứ mệnh vì người nghèo và các đối tượng chính sách khác
20/09/2022 969 lượt xem
Hà Quảng là một huyện vùng cao, nằm ở phía tây tỉnh Cao Bằng, có diện tích đất tự nhiên gần 811 km2, dân số 62.517 người, gồm 5 dân tộc anh em cùng sinh sống, trong đó, đồng bào dân tộc thiểu số chiếm 99,5% tổng số hộ dân toàn huyện. Hà Quảng có 21 đơn vị hành chính cấp xã gồm 19 xã và 02 thị trấn; theo chuẩn nghèo đa chiều, tính đến ngày 30/12/2021, tỷ lệ hộ nghèo, hộ cận nghèo trên địa bàn huyện chiếm 51,59% với tổng số 7.227 hộ, trong đó, hộ nghèo có 5.546 hộ, chiếm 39,59%, hộ cận nghèo có 1.681 hộ, chiếm 12%.
Điều hành tín dụng hỗ trợ phục hồi tăng trưởng kinh tế nhưng không chủ quan với rủi ro lạm phát
Điều hành tín dụng hỗ trợ phục hồi tăng trưởng kinh tế nhưng không chủ quan với rủi ro lạm phát
15/09/2022 351 lượt xem
Theo các chuyên gia, đối với các nền kinh tế đang phát triển như Việt Nam, việc không quản lý được lạm phát sẽ tạo ra rất nhiều bất ổn. Từ sau khi ổn định hệ thống tiền tệ với chính sách room tín dụng, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN) đã đạt được mục tiêu ổn định kinh tế vĩ mô khi lạm phát được kiểm soát tốt.
Ngành Ngân hàng chủ động triển khai chính sách hỗ trợ lãi suất đồng bộ, thống nhất từ Trung ương đến địa phương
Ngành Ngân hàng chủ động triển khai chính sách hỗ trợ lãi suất đồng bộ, thống nhất từ Trung ương đến địa phương
13/09/2022 407 lượt xem
Thời gian qua, trước ảnh hưởng của đại dịch Covid-19, Đảng, Nhà nước, Chính phủ luôn có chủ trương, chính sách, giải pháp kịp thời, đúng đắn nhằm hỗ trợ người dân, doanh nghiệp vượt qua khó khăn, phục hồi và phát triển sản xuất, kinh doanh, từ đó tạo động lực và nền tảng cho phát triển kinh tế.
 Tín dụng chính sách trên địa bàn huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên: Gieo niềm tin cho người yếu thế
Tín dụng chính sách trên địa bàn huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên: Gieo niềm tin cho người yếu thế
07/09/2022 326 lượt xem
Đại Từ là huyện miền núi nằm ở phía Tây Bắc của tỉnh Thái Nguyên, cách thành phố Thái Nguyên 25 km, với tổng diện tích tự nhiên là 57.790 ha.
Hệ thống ngân hàng tỉnh Bắc Ninh tiếp tục các giải pháp nhằm hỗ trợ phục hồi và phát triển kinh tế - xã hội địa phương
Hệ thống ngân hàng tỉnh Bắc Ninh tiếp tục các giải pháp nhằm hỗ trợ phục hồi và phát triển kinh tế - xã hội địa phương
02/09/2022 1.153 lượt xem
Tám tháng đầu năm 2022, nhờ hàng loạt cơ chế, chính sách được Chính phủ, các bộ, ngành ban hành kịp thời như điều chỉnh giảm giá xăng dầu, miễn giảm thuế cho người dân và doanh nghiệp…, tạo điều kiện cho nền kinh tế cả nước nói chung, tỉnh Bắc Ninh nói riêng tiếp tục phục hồi và tăng trưởng.
Ngân hàng Chính sách xã hội  Cư M’gar: Dấu ấn 20 năm đồng hành cùng người nghèo
Ngân hàng Chính sách xã hội Cư M’gar: Dấu ấn 20 năm đồng hành cùng người nghèo
29/08/2022 1.096 lượt xem
Thực hiện Nghị định số 78/2002/NĐ-CP ngày 04/10/2002 của Chính phủ về tín dụng đối với người nghèo và các đối tượng chính sách khác, trong 20 năm qua, Ngân hàng Chính sách xã hội (NHCSXH) huyện Cư M’gar, tỉnh Đắk Lắk đã triển khai rộng rãi và hiệu quả các chương trình tín dụng chính sách xã hội, góp phần tích cực vào thực hiện mục tiêu giảm nghèo bền vững, xây dựng nông thôn mới, bảo đảm an sinh xã hội trên địa bàn huyện.
Hệ thống ngân hàng trên địa bàn tỉnh Hòa Bình: Hướng tín dụng vào động lực phát triển kinh tế của tỉnh
Hệ thống ngân hàng trên địa bàn tỉnh Hòa Bình: Hướng tín dụng vào động lực phát triển kinh tế của tỉnh
26/08/2022 1.105 lượt xem
Những tháng đầu năm 2022, hệ thống ngân hàng trên địa bàn tỉnh Hòa Bình đã bám sát chủ trương của Chính phủ, định hướng và chỉ đạo của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN), kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh thực hiện các giải pháp tiền tệ và hoạt động ngân hàng an toàn, hiệu quả.
Hệ thống ngân hàng tỉnh Tuyên Quang: Luôn đồng hành  cùng sự phát triển của địa phương
Hệ thống ngân hàng tỉnh Tuyên Quang: Luôn đồng hành cùng sự phát triển của địa phương
23/08/2022 2.724 lượt xem
Khi tình hình đại dịch Covid-19 cơ bản đã được kiểm soát, tỷ lệ bao phủ vaccine cao, người dân bắt đầu trở lại trong hoạt động kinh doanh, sản xuất, hệ thống ngân hàng tỉnh Tuyên Quang xác định nhiệm vụ trọng tâm của mình trong các tháng cuối năm 2022 và giai đoạn 2022 - 2025 là tập trung, ưu tiên đầu tư tín dụng hỗ trợ phục hồi và phát triển kinh tế - xã hội theo Nghị quyết số 11/NQ-CP ngày 30/01/2022 của Chính phủ về Chương trình phục hồi và phát triển kinh tế - xã hội và triển khai Nghị quyết số 43/2022/QH15 của Quốc hội về chính sách tài khóa, tiền tệ hỗ trợ Chương trình (Nghị quyết 11/NQ-CP) và đẩy nhanh việc chuyển đổi số, thanh toán không dùng tiền mặt.
Ngân hàng Chính sách xã hội Quảng Nam: Bền bỉ hành trình cung ứng tín dụng giảm nghèo bền vững
Ngân hàng Chính sách xã hội Quảng Nam: Bền bỉ hành trình cung ứng tín dụng giảm nghèo bền vững
22/08/2022 1.169 lượt xem
Những năm qua, tín dụng chính sách xã hội đã trở thành một chủ công hỗ trợ nhiều hộ nghèo, hộ cận nghèo, hộ đồng bào dân tộc thiểu số, đặc biệt đối với vùng sâu, vùng xa của tỉnh Quảng Nam, tín dụng chính sách xã hội đang là lực đẩy giúp người dân từng bước thoát nghèo. Tuy nhiên, câu chuyện giảm nghèo bền vững, nối gần khoảng cách thu nhập với người dân miền Trung và Tây Nguyên nói riêng, các vùng miền trên cả nước nói chung vẫn là thách thức đối với tỉnh Quảng Nam trong những năm tới.
Giải pháp cho công nhân, người lao động tiếp cận vốn chính thức, tránh xa “bẫy” tín dụng đen
Giải pháp cho công nhân, người lao động tiếp cận vốn chính thức, tránh xa “bẫy” tín dụng đen
19/08/2022 1.439 lượt xem
Nhằm giúp công nhân, người lao động sớm thoát khỏi những hình thức vay tín dụng đen, ngành Ngân hàng đã chỉ đạo các công ty tài chính tiêu dùng đưa ra gói tín dụng 20 nghìn tỷ đồng, với lãi suất bằng một nửa lãi suất cho vay hiện nay để cho công nhân, người lao động ở các khu công nghiệp có nhu cầu vay tiêu dùng.
Hệ thống ngân hàng tỉnh Đồng Tháp đồng bộ các giải pháp hỗ trợ người dân và doanh nghiệp phục hồi sản xuất, kinh doanh
Hệ thống ngân hàng tỉnh Đồng Tháp đồng bộ các giải pháp hỗ trợ người dân và doanh nghiệp phục hồi sản xuất, kinh doanh
11/08/2022 1.220 lượt xem
Để kịp thời tháo gỡ các khó khăn, vướng mắc hỗ trợ người dân và doanh nghiệp, thực hiện theo Nghị quyết số 11/NQ-CP ngày 30/01/2022 của Chính phủ về Chương trình phục hồi và phát triển kinh tế - xã hội và triển khai Nghị quyết số 43/2022/QH15 của Quốc hội về chính sách tài khóa, tiền tệ hỗ trợ Chương trình (Nghị quyết số 11) nhằm phục hồi, phát triển nhanh hoạt động sản xuất, kinh doanh, trong 7 tháng đầu năm 2022, hệ thống ngân hàng trên địa bàn tỉnh Đồng Tháp đã chủ động, kịp thời tổ chức triển khai các văn bản chỉ đạo điều hành của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN), các nhiệm vụ, giải pháp về tiền tệ, ngân hàng trên địa bàn đạt được kết quả tích cực, góp phần đáng kể vào việc thực hiện nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh.
Giá vàngXem chi tiết

GIÁ VÀNG - XEM THEO NGÀY

Khu vực

Mua vào

Bán ra

HÀ NỘI

Vàng SJC 1L

65.800

66.620

TP.HỒ CHÍ MINH

Vàng SJC 1L

65.800

66.600

Vàng SJC 5c

65.800

66.620

Vàng nhẫn 9999

50.350

51.250

Vàng nữ trang 9999

50.250

50.850


Ngoại tệXem chi tiết
TỶ GIÁ - XEM THEO NGÀY 
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 23.535 23.845 26.488 27.866 31.023 32.318 204.16 214.87
BIDV 23.575 23.855 26.575 27.683 31.139 32.402 203.99 213.29
VietinBank 23.553 23.853 26.607 27.727 31.399 32.409 204.47 213.47
Agribank 23.555 23.845 26.787 27.493 31.334 32.117 205.87 211.70
Eximbank 23.570 23.840 26.871 27.398 31.480 32.096 206.75 210.81
ACB 23.570 23.900 26.814 27.429 31.401 31.993 206.11 211.05
Sacombank 23.592 23.967 26.953 27.513 31.568 32.084 206.29 212.66
Techcombank 23.558 23.860 26.643 27.863 31.118 32.281 205.24 214.28
LienVietPostBank 23.540 23.995 26.875 27.928 31.504 31.988 207.19 213.97
DongA Bank 23.610 23.860 26.930 27.410 31.560 32.110 203.80 210.30
(Cập nhật trong ngày)
Lãi SuấtXem chi tiết
(Cập nhật trong ngày)
Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,20
0,20
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,40
BIDV
0,10
-
-
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
VietinBank
0,10
0,20
0,20
0,20
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
Cake by VPBank
0,10
-
-
-
3,80
-
3.90
6.90
-
7.50
7.60
ACB
-
0,20
0,20
0,20
3,10
3,20
3,40
4,50
4,60
5,10
5,80
Sacombank
0,03
-
-
-
3,50
3,70
3,80
5,20
5,35
5,80
6,20
Techcombank
0,03
-
-
-
2,95
3,25
3,45
5,25
5,25
5,65
5,75
LienVietPostBank
0,10
0,10
0,10
0,10
3,50
3,50
3,80
4,47
4,45
5,49
5,34
DongA Bank
0,20
0,20
0,20
0,20
3,80
3,80
3,80
6,10
6,20
6,70
7,00
Agribank
0,10
-
-
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
Eximbank
0,10
0,20
0,20
0,20
3,40
3,50
3,70
5,40
5,40
5,90
6,00

Liên kết website
Bình chọn trực tuyến
Nội dung website có hữu ích với bạn không?