Thúc đẩy chuyển đổi số hướng đến một cuộc sống tốt đẹp hơn
01/10/2022 2.040 lượt xem
Cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư (CMCN 4.0) đã và đang tác động ngày càng mạnh mẽ đến tất cả các ngành, lĩnh vực của đời sống kinh tế - xã hội, mở ra nhiều cơ hội cũng như đặt ra nhiều thách thức đối với mỗi quốc gia trong đó có Việt Nam. Chuyển đổi số ngày càng trở nên quan trọng, trở thành vấn đề sống còn trong kỷ nguyên 4.0 đang phát triển không ngừng, đó không phải là sự lựa chọn mà là điều cần thiết để duy trì, cạnh tranh trên thị trường. Đảng và Chính phủ ta đã xác định chuyển đổi số là một chủ trương lớn, là hướng đi tất yếu để thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội của đất nước.

Chuyển đổi số - nhận thức đóng vai trò quan trọng

Những năm gần đây, thuật ngữ Chuyển đổi số (Digital Transformation) thường xuyên được nhắc đến ở các ngành, lĩnh vực và trong đời sống xã hội. Chuyển đổi số có thể hiểu là sự tích hợp các công nghệ kỹ thuật số vào tất cả các lĩnh vực của một doanh nghiệp, tận dụng các công nghệ thay đổi căn bản cách thức vận hành, mô hình kinh doanh và cung cấp các giá trị mới cho khách hàng của doanh nghiệp đó cũng như tăng tốc các hoạt động kinh doanh. Chuyển đổi số là một sự thay đổi về văn hóa của các doanh nghiệp, đòi hỏi các doanh nghiệp phải liên tục thay đổi, thử nghiệm cái mới và thoải mái chấp nhận các thất bại.

Khái niệm chuyển đổi số thường được hiểu theo nghĩa là quá trình thay đổi từ mô hình doanh nghiệp truyền thống sang doanh nghiệp số bằng cách áp dụng công nghệ mới như trí tuệ nhân tạo (AI), dữ liệu lớn (Big Data), Internet vạn vật (IoT), điện toán đám mây (Cloud Computing)… nhằm thay đổi phương thức điều hành, lãnh đạo, quy trình làm việc, văn hóa công ty1. Chuyển đổi số là việc thực hiện số hóa, ứng dụng công nghệ số vào tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội, làm tăng hiệu quả hoạt động, phát huy tối đa năng suất lao động và mang lại giá trị kinh tế cao cho các ngành nghề, lĩnh vực khi áp dụng chuyển đổi số.

Chuyển đổi số không chỉ giúp tăng năng suất, giảm chi phí mà còn mở ra không gian phát triển mới, tạo ra các giá trị mới ngoài các giá trị truyền thống vốn có. Chuyển đổi số là quá trình khách quan, muốn hay không thì chuyển đổi số vẫn diễn ra và đang diễn ra. Cuộc sống không ngừng vận động và biến đổi. Mỗi người cũng cần không ngừng thay đổi, thích nghi, nếu không sẽ bị bỏ lại ở phía sau. Do đó, có thể chuyển đổi số ngay lập tức bằng cách chuyển đổi về tư duy, nhận thức, sau đó chuyển đổi cách sống, cách làm việc và phương thức sản xuất dựa trên các công nghệ số2.

Xác định chuyển đổi số là một nhiệm vụ quan trọng đối với sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, ngày 27/9/2019, Bộ Chính trị đã ban hành Nghị quyết số 52-NQ/TW về một số chủ trương, chính sách chủ động tham gia cuộc CMCN 4.0 (Nghị quyết số 52-NQ/TW), với quan điểm chỉ đạo: Chủ động, tích cực tham gia cuộc CMCN 4.0 là yêu cầu tất yếu khách quan; là nhiệm vụ có ý nghĩa chiến lược đặc biệt quan trọng, vừa cấp bách vừa lâu dài của cả hệ thống chính trị và toàn xã hội, gắn chặt với quá trình hội nhập quốc tế sâu rộng; đồng thời nhận thức đầy đủ, đúng đắn về nội hàm, bản chất của cuộc CMCN 4.0 để quyết tâm đổi mới tư duy về hành động, coi đó là giải pháp đột phá với bước đi và lộ trình phù hợp, là cơ hội để Việt Nam bứt phá trong phát triển kinh tế - xã hội… Tận dụng có hiệu quả các cơ hội do cuộc CMCN 4.0 đem lại để thúc đẩy quá trình đổi mới mô hình tăng trưởng, cơ cấu lại nền kinh tế gắn với thực hiện các đột phá chiến lược và hiện đại hóa đất nước; phát triển mạnh mẽ kinh tế số; phát triển nhanh và bền vững dựa trên khoa học - công nghệ, đổi mới sáng tạo và nhân lực chất lượng cao; nâng cao chất lượng cuộc sống, phúc lợi của người dân; bảo đảm vững chắc quốc phòng, an ninh, bảo vệ môi trường sinh thái.

Ngày 17/4/2020, Chính phủ cũng đã ban hành Nghị quyết số 50/NQ-CP Chương trình hành động của Chính phủ thực hiện Nghị quyết số 52-NQ/TW (Nghị quyết số 50/NQ-CP); yêu cầu hoàn thiện thể chế tạo thuận lợi cho chủ động tham gia cuộc CMCN 4.0 cho quá trình chuyển đổi số quốc gia; xây dựng và phát triển cơ sở hạ tầng thiết yếu, các chính sách phát triển nâng cao năng lực đổi mới sáng tạo quốc gia, phát triển nguồn nhân lực, phát triển các ngành và công nghệ ưu tiên, chính sách hội nhập quốc tế, chính sách thúc đẩy chuyển đổi số trong các cơ quan Đảng, Nhà nước, Mặt trận Tổ quốc, các tổ chức chính trị - xã hội.

Cùng với đó, Chương trình Chuyển đổi số quốc gia đến năm 2025, định hướng đến năm 2030 đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt tại Quyết định số 749/QĐ-TTg ngày 03/6/2020, đưa mục tiêu đến năm 2030 Việt Nam trở thành quốc gia số, ổn định và thịnh vượng, tiên phong thử nghiệm các công nghệ và mô hình mới, đổi mới căn bản, toàn diện hoạt động quản lý, điều hành của Chính phủ, hoạt động sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp, phương thức sống, làm việc của người dân phát triển môi trường số an toàn, nhân văn, rộng khắp. Chương trình Chuyển đổi số quốc gia nhằm mục tiêu kép là vừa phát triển Chính phủ số, kinh tế số, xã hội số, vừa hình thành các doanh nghiệp công nghệ số Việt Nam có năng lực đi ra toàn cầu.

Đặc biệt, nhận thức phải đóng vai trò quyết định trong chuyển đổi số; người dân là trung tâm của chuyển đổi số; thể chế và công nghệ là động lực của chuyển đổi số; phát triển nền tảng số là giải pháp đột phá để thúc đẩy chuyển đổi số nhanh hơn, giảm chi phí, tăng hiệu quả. Bảo đảm an toàn, an ninh mạng là then chốt để chuyển đổi số thành công và bền vững, đồng thời là phần xuyên suốt không thể tách rời của chuyển đổi số.

Mục tiêu cơ bản của Chương trình đến năm 2025, phát triển Chính phủ số, nâng cao hiệu quả, hiệu lực hoạt động với 80% dịch vụ công trực tuyến mức độ 4 được cung cấp trên nhiều phương tiện truy cập khác nhau, bao gồm cả thiết bị di động; 90% hồ sơ công việc tại cấp bộ, tỉnh; 80% hồ sơ công việc tại cấp huyện và 60% hồ sơ công việc tại cấp xã được xử lý trên môi trường mạng (trừ hồ sơ công việc thuộc phạm vi bí mật nhà nước); 100% chế độ báo cáo, chỉ tiêu tổng hợp báo cáo định kỳ và báo cáo thống kê về kinh tế - xã hội phục vụ sự chỉ đạo, điều hành của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ được kết nối, tích hợp, chia sẻ dữ liệu số trên Hệ thống thông tin báo cáo Chính phủ; 100% cơ sở dữ liệu quốc gia tạo nền tảng phát triển Chính phủ điện tử bao gồm các cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư, đất đai, đăng ký doanh nghiệp, tài chính, bảo hiểm được hoàn thành và kết nối, chia sẻ trên toàn quốc; từng bước mở dữ liệu của các cơ quan nhà nước để cung cấp dịch vụ công kịp thời, một lần khai báo, trọn vòng đời phục vụ người dân và phát triển kinh tế - xã hội; 50% hoạt động kiểm tra của cơ quan quản lý nhà nước được thực hiện thông qua môi trường số và hệ thống thông tin của cơ quan quản lý; phấn đấu Việt Nam sẽ gia nhập nhóm 70 nước dẫn đầu về Chính phủ điện tử (EGDI).

Phát triển kinh tế số, nâng cao năng lực cạnh tranh của nền kinh tế, mục tiêu đến năm 2025 là kinh tế số chiếm 20% GDP; tỷ trọng kinh tế số trong từng ngành, lĩnh vực đạt tối thiểu 10%; năng suất lao động hằng năm tăng tối thiểu 7%; Việt Nam sẽ thuộc nhóm 50 nước dẫn đầu về công nghệ thông tin (IDI), thuộc nhóm 50 nước dẫn đầu về chỉ số cạnh tranh (GCI), thuộc nhóm 35 nước dẫn đầu về đổi mới sáng tạo (GII).

Phát triển xã hội số, thu hẹp khoảng cách số, mục tiêu đến năm 2025 là hạ tầng mạng băng rộng cáp quang phủ trên 80% hộ gia đình, 100% xã; phổ cập dịch vụ mạng di động 4G/5G và điện thoại di động thông minh; tỷ lệ dân số có tài khoản thanh toán điện tử trên 50%; phấn đấu Việt Nam thuộc nhóm 40 nước dẫn đầu về an toàn, an ninh mạng.

Mục tiêu cơ bản đến năm 2030, 100% dịch vụ công trực tuyến mức độ 4 được cung cấp trên nhiều phương tiện truy cập khác nhau, bao gồm cả thiết bị di động. 100% hồ sơ công việc tại cấp bộ, tỉnh; 90% hồ sơ công việc tại cấp huyện và 70% hồ sơ công việc tại cấp xã sẽ được xử lý trên môi trường mạng (trừ hồ sơ công việc thuộc phạm vi bí mật nhà nước); hình thành nền tảng dữ liệu cho các ngành kinh tế trọng điểm dựa trên dữ liệu của các cơ quan nhà nước và hạ tầng kết nối IoT, kết nối, chia sẻ rộng khắp giữa các cơ quan nhà nước, giảm 30% thủ tục hành chính; mở dữ liệu cho các tổ chức, doanh nghiệp, tăng 30% dịch vụ sáng tạo dựa trên dữ liệu phục vụ người dân, doanh nghiệp; 70% hoạt động kiểm tra của cơ quan quản lý nhà nước được thực hiện thông qua môi trường số và hệ thống thông tin của cơ quan quản lý. Việt Nam đặt mục tiêu gia nhập nhóm 50 nước dẫn đầu về Chính phủ điện tử.

Phát triển kinh tế số, nâng cao năng lực cạnh tranh của nền kinh tế, trong đó kinh tế số chiếm 30% GDP; tỷ trọng kinh tế số trong từng ngành, lĩnh vực đạt tối thiếu 20%; năng suất lao động tăng tối thiếu 8%, Việt Nam thuộc nhóm 30 nước dẫn đầu về công nghệ thông tin, về chỉ số cạnh tranh và về đổi mới sáng tạo... Phát triển xã hội số, thu hẹp khoảng cách số, phổ cập dịch vụ mạng Internet băng rộng cáp quang; phổ cập dịch vụ mạng di động 5G; tỷ lệ dân số có tài khoản thanh toán điện tử là trên 80%. Việt Nam sẽ thuộc nhóm 30 nước dẫn đầu về an toàn, an ninh mạng.

Ngày Chuyển đổi số quốc gia

Nhằm đẩy nhanh tiến độ triển khai nhiệm vụ về chuyển đổi số quốc gia, thực hiện có hiệu quả Chương trình Chuyển đổi số quốc gia đến năm 2025, định hướng đến năm 2030 và góp phần nâng cao nhận thức của người dân toàn xã hội về vai trò, ý nghĩa và lợi ích của chuyển đổi số; thúc đẩy sự tham gia vào cuộc của cả hệ thống chính trị, hành động đồng bộ ở các cấp và sự tham gia của toàn dân bảo đảm sự thành công của chuyển đổi số; ngày 22/4/2022, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 505/QĐ-TTg về Ngày Chuyển đổi số quốc gia, lấy ngày 10/10 hằng năm là Ngày Chuyển đổi số quốc gia. Trên cơ sở đó, Bộ trưởng Bộ Thông tin và Truyền thông cũng đã ban hành Quyết định số 1092/QĐ-BTTTT ngày 16/6/2022 phê duyệt Kế hoạch triển khai Quyết định số 505/QĐ-TTg ngày 22/4/2022 của Thủ tướng Chính phủ về Ngày Chuyển đổi số quốc gia.

Ngày Chuyển đổi số quốc gia là sự kiện giúp nâng cao nhận thức của toàn dân về ý nghĩa, vai trò, tầm quan trọng của chuyển đổi số đối với cuộc sống nói riêng của mỗi người và sự phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội nói chung của đất nước. Với quan điểm chuyển đổi số để giúp giải quyết các vấn đề của cuộc sống, chuyển đổi số “vị” nhân sinh, thì tinh thần xuyên suốt là ngày nào cũng là ngày chuyển đổi số, vì cuộc sống tiếp diễn liên tục, không ngừng đặt ra những vấn đề mới. Vì thế, Ngày Chuyển đổi số quốc gia còn là ngày mà mỗi cá nhân, tổ chức dừng lại một chút để cảm nhận về những gì còn chưa làm được, những gì đã làm được, về quá khứ, hiện tại và tương lai. Ngày Chuyển đổi số quốc gia đánh dấu ý nghĩa của chuyển đổi số như là một phương thức phát triển mới của đất nước trong thời gian tới, mở ra những không gian mới cho sự phát triển. Chuyển đổi số không phải là thêm một việc mới, mà là thêm một cách làm mới cho những việc hiện tại.

Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng đã xác định rõ nhiệm vụ quan trọng là đẩy mạnh chuyển đổi số quốc gia, phát triển kinh tế số trên nền tảng khoa học và công nghệ, đổi mới sáng tạo. Chuyển đổi số chỉ có thể thành công nếu lấy người dân làm trung tâm và huy động được sự tham gia của toàn dân. Việt Nam hiện đang có gần 100 triệu dân và có khoảng 1 triệu người làm việc trong lĩnh vực công nghệ thông tin và truyền thông. Các mô hình chuyển đổi số đang tạo ra những dịch vụ có ích cho người dân và tận dụng một cách hiệu quả nguồn lực nhàn rỗi của xã hội. Trong bối cảnh của nền kinh tế số hiện nay, đòi hỏi các tổ chức, doanh nghiệp và mô hình truyền thống phải có sự thay đổi mạnh mẽ để tiếp tục tồn tại và phát triển.

Chủ đề của Ngày Chuyển đổi số quốc gia năm 2022 là: “Chuyển đổi số giải quyết các vấn đề của xã hội vì một cuộc sống tốt đẹp hơn cho người dân”. Theo đó, các hoạt động hưởng ứng Ngày Chuyển đổi số quốc gia năm 2022 tập trung vào phát động các sáng kiến mang lại lợi ích thiết thực cho người dân, thúc đẩy, quảng bá toàn dân tăng cường sử dụng các sản phẩm, dịch vụ số, thúc đẩy phổ cập kỹ năng số, làm cho người dân được thụ hưởng các kết quả do chuyển đổi số mang lại.

Ngành Ngân hàng nỗ lực đẩy mạnh chuyển đổi số

Chương trình Chuyển đổi số quốc gia đến năm 2025, định hướng đến năm 2030 của Thủ tướng Chính phủ quy định, lĩnh vực tài chính - ngân hàng là một trong những lĩnh vực cần ưu tiên chuyển đổi số. Theo đó, chuyển đổi số trong các ngân hàng thương mại để cung cấp dịch vụ ngân hàng số theo hướng phát triển đa dạng các kênh phân phối, đổi mới sáng tạo, tự động hóa quy trình, thúc đẩy hợp tác với các công ty công nghệ tài chính (Fintech) và trung gian thanh toán trong việc xây dựng hệ sinh thái dịch vụ tài chính ngân hàng để thúc đẩy phổ cập tài chính quốc gia, đưa dịch vụ tài chính - ngân hàng đến gần hơn những đối tượng vùng sâu, vùng xa chưa có khả năng tiếp cận hoặc chưa được ngân hàng phục vụ dựa vào sự đổi mới sáng tạo của công nghệ như thanh toán di động, cho vay ngang hàng…

Có thể khẳng định, quá trình triển khai chuyển đổi số ngành Ngân hàng luôn bám sát chủ trương, định hướng của Đảng, Chính phủ về chính sách chủ động tham gia CMCN 4.0, Chương trình Chuyển đổi số quốc gia và Chiến lược phát triển ngành Ngân hàng đến năm 2025, định hướng đến năm 2030. Thời gian qua, ngành Ngân hàng đã tích cực, chủ động nghiên cứu và triển khai đồng bộ nhiều chính sách, giải pháp nhằm tạo thuận lợi chuyển đổi số, thúc đẩy ứng dụng công nghệ số trong hoạt động ngân hàng, chú trọng đầu tư, nâng cấp, phát triển cơ sở hạ tầng và công nghệ phục vụ thanh toán không dùng tiền mặt (TTKDTM), nhất là thanh toán điện tử. Bên cạnh đó, với tiếp cận “Chuyển đổi số để tăng tốc và phát triển bền vững”, nhiều ngân hàng xem chuyển đổi số và việc phát triển mô hình, hoạt động ngân hàng số là một mục tiêu trong chiến lược kinh doanh nhằm đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của khách hàng.

Thống đốc NHNN cũng đã ban hành Quyết định số 810/QĐ-NHNN ngày 11/5/2021 phê duyệt Kế hoạch chuyển đổi số ngành Ngân hàng đến năm 2025, định hướng đến năm 2030; đồng thời, thành lập Ban Chỉ đạo và tổ công tác Chuyển đổi số ngành Ngân hàng do Thống đốc NHNN làm Trưởng ban.

Bên cạnh việc thường xuyên rà soát để chỉnh sửa, bổ sung khuôn khổ pháp lý nhằm tạo thuận lợi, thúc đẩy chuyển đổi số, NHNN thường xuyên quan tâm đến việc nâng cấp, xây dựng hạ tầng, hiện đại hóa hệ thống ngân hàng, phục vụ hoạt động chuyển đổi số, như nâng cấp, hoàn thiện hệ thống thanh toán điện tử liên ngân hàng, xây dựng đưa vào vận hành hệ thống bù trừ điện tử phục vụ các giao dịch bán lẻ.

Hoạt động chuyển đổi số ngành Ngân hàng diễn ra mạnh mẽ. Theo báo cáo đánh giá chỉ số chuyển đổi số của Bộ Thông tin và Truyền thông, NHNN được xếp vị trí thứ 1 về chỉ số xếp hạng an toàn thông tin mạng, thứ 2 về chỉ số thể chế số và xếp thứ 4 về chỉ số hoạt động chuyển đổi số3.

NHNN chỉ đạo toàn ngành Ngân hàng tích cực triển khai nhiều giải pháp thúc đẩy thanh toán điện tử đối với dịch vụ công. Các chỉ số TTKDTM trong 7 tháng đầu năm 2022 đạt mức tăng trưởng cao so với cùng kỳ năm 2021. Tổng số lượng giao dịch qua hệ thống thanh toán điện tử liên ngân hàng tăng gần 13,63% về giá trị; qua hệ thống chuyển mạch tài chính và bù trừ điện tử tăng 95,62% về số lượng và 112,15% về giá trị.  Giao dịch TTKDTM tăng 78,0% về số lượng và 29,3% về giá trị; qua Internet tăng tương ứng 68,5% và 31,6%; qua điện thoại di động tăng 97,8% và 84,2%; qua QR Code tăng 100,9% và 142,5%; giao dịch qua POS tăng 36,56% và 38,69%; giao dịch qua ATM tăng tương ứng 3,83% và tăng 6,61%, cho thấy việc rút tiền mặt qua ATM giảm dần, phản ánh xu hướng dịch chuyển sang thanh toán điện tử, TTKDTM4.

Hiện đã có gần 70% người Việt Nam trưởng thành có tài khoản thanh toán tại tổ chức tín dụng, gần 5,5 triệu tài khoản thanh toán và khoảng 8 triệu thẻ được mở bằng phương thức điện tử eKYC đang hoạt động; gần 1,77 triệu tài khoản Mobile-Money đã được mở với khoảng 67,2% trong đó được mở tại khu vực nông thôn, vùng sâu, vùng xa.

Các dịch vụ ngân hàng trên nền tảng số phát triển nhanh và mạnh. Một số ngân hàng lớn như: VPBank, Techcombank, MB, HDBank… đã chuyển đổi số sớm và thu được kết quả rất khích lệ khi CASA lên đến 40 - 50% góp phần tăng lợi nhuận của các ngân hàng. Ngành Ngân hàng bước đầu đã đầu tư 15.000 tỷ đồng cho hoạt động này và thu được những thành quả rất tích cực. Việt Nam hiện là một trong những nước ứng dụng ngân hàng số hàng đầu khi tỷ lệ tăng trưởng 40% chỉ trong thời gian ngắn. Theo khảo sát của NHNN, 95% ngân hàng, tổ chức tín dụng đã xây dựng chiến lược chuyển đổi số. Các ngân hàng Việt Nam đã tích cực, chủ động trong việc nắm vững công nghệ 4.0 để số hóa, nâng cấp hệ thống công nghệ thông tin, cung cấp các sản phẩm, dịch vụ trên hệ thống số5.

Bên cạnh những kết quả bước đầu, công tác triển khai chuyển đổi số ngành Ngân hàng phải đối mặt với nhiều thách thức. Hoạt động TTKDTM, sử dụng các dịch vụ ngân hàng số vẫn còn tình trạng gian lận thanh toán, lừa đảo đánh cắp thông tin cá nhân, chiếm đoạt tài khoản người dùng; tại một số tổ chức tín dụng, tổ chức vận hành vẫn còn để ra tình trạng mất an ninh, an toàn hệ thống công nghệ thông tin dù đã được thông tin, cảnh báo trước. Mặt khác, các quy định hiện hành liên quan về giao dịch điện tử, chữ ký điện tử, chứng từ điện tử, việc định danh và xác thực khách hàng điện tử, chia sẻ dữ liệu và bảo mật thông tin khách hàng… cần phải rà soát, điều chỉnh để phù hợp với bối cảnh mới…

Để đẩy mạnh chuyển đổi số, thời gian tới ngành Ngân hàng sẽ tiếp tục xây dựng cơ chế, chính sách tạo thuận lợi cho phát triển TTKDTM, số hóa các mảng hoạt động, nghiệp vụ ngân hàng ngoài nghiệp vụ thanh toán; phối hợp với đơn vị chức năng của Bộ Công an đẩy nhanh kết nối khai thác thông tin cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư và căn cước công dân gắn chíp theo Đề án phát triển ứng dụng dữ liệu về dân cư, định danh và xác thực điện tử phục vụ chuyển đổi số quốc gia giai đoạn 2022 - 2025, tầm nhìn đến năm 2030 (Đề án 06) để đảm bảo định danh, xác thực khách hàng chính xác, làm sạch dữ liệu tại tổ chức tín dụng và các đơn vị chức năng của NHNN; đảm bảo công tác an ninh, an toàn gắn với hoạt động chuyển đổi số ngân hàng và công tác phòng, chống rửa tiền trong lĩnh vực thanh toán; đồng thời tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra hoạt động của các tổ chức tín dụng, tổ chức cung ứng dịch vụ trung gian thanh toán.

Các tổ chức tín dụng thực hiện chuyển đổi số sâu rộng nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động và gia tăng trải nghiệm khách hàng, thích ứng với bối cảnh số hóa dịch vụ sâu rộng, mở rộng không gian phát triển hoạt động kinh doanh và đáp ứng tốt các hoạt động kinh tế số, đồng thời phát triển, cung ứng các dịch vụ TTKDTM an toàn, tiện lợi, đem lại lợi ích, giá trị thiết thực cho người dân, doanh nghiệp. Chú trọng đào tạo đội ngũ nhân viên mang tính chuyên nghiệp, phù hợp với cả quá trình chuyển đổi số. Chủ động rà soát, đánh giá, kiểm tra hệ thống CNTT, đảm bảo an ninh an toàn trước rủi ro xâm nhập, tấn công mạng và đảm bảo khả năng hoạt động liên tục, không gián đoạn dịch vụ đối với hệ thống công nghệ thông tin. Nghiêm túc chấp hành, tuân thủ các hướng dẫn, thông báo, cảnh báo của NHNN và các cơ quan chức năng (Bộ Công an, Bộ Thông tin và Truyền thông), tăng cường các biện pháp đảm bảo an ninh, an toàn, phòng ngừa tội phạm. Bên cạnh đó, phải đặt mục tiêu chiến lược trong việc truyền thông quảng bá, giới thiệu sản phẩm của mình để người dân hiểu, chia sẻ, sử dụng một cách an toàn hiệu quả, hạn chế tối đã các rủi ro về bảo mật thông tin.
 
 
Bộ nhận diện Ngày Chuyển đổi số quốc gia

 
 
 3. Băng rôn Ngày Chuyển đổi số quốc gia:
 
 
 
 
4. Standee Ngày Chuyển đổi số quốc gia:
 


 
1 Chuyển đổi số là gì và quan trọng như thế nào trong thời đại ngày nay? https://danang.gov.vn/chinh-quyen/chi-tiet?id=2391&amp&_c=100000174
2 FSI. Chuyển đổi số là gì? Vai trò của chuyển đổi số (23/9/2022) https://fsivietnam.com.vn/chuyen-doi-so-la-gi/
3,4 Cổng thông tin điển tử NHNN Việt Nam. Điều hành chính sách tiền tệ “hóa giải” thành công nhiều thách thức (23/09/2022). https://www.sbv.gov.vn/
5 Báo điện tử Chính phủ (28/9/2022) https://baochinhphu.vn/toa-dam-nganh-ngan-hang-tien-phong-chuyen-doi-so-de-toan-dan-tham-gia-toan-dan-huong-loi-102220928195008218.htm


Tài liệu tham khảo:

1. Nghị quyết số 52-NQ/TW ngày 27/9/2019 của Bộ Chính trị về một số chủ trương, chính sách chủ động tham gia cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư.
2. Nghị quyết số 50/NQ-CP ngày 17/4/2020 của Chính phủ ban hành Chương trình hành động thực hiện Nghị quyết số 52-NQ/TW của Bộ Chính trị về một số chủ trương, chính sách chủ động tham gia cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư.
3. Quyết định số 749/QĐ-TTg ngày 03/6/2020 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chương trình Chuyển đổi số quốc gia đến năm 2025, định hướng đến năm 2030.
4. Quyết định số 810/QĐ-NHNN ngày 11/5/2021 của Thống đốc NHNN phê duyệt Kế hoạch chuyển đổi số ngành Ngân hàng đến năm 2025, định hướng đến năm 2030.
5. Quyết định số 505/QĐ-TTg ngày 22/4/2022 của Thủ tướng Chính phủ về Ngày Chuyển đổi số quốc gia.
6. Quyết định số 1092/QĐ-BTTTT ngày 16/6/2022 của Bộ trưởng Bộ Thông tin và Truyền thông phê duyệt Kế hoạch triển khai Quyết định số 505/QĐ-TTg ngày 22/4/2022 của Thủ tướng Chính phủ về Ngày Chuyển đổi số quốc gia.
7. Báo cáo Hội nghị Sơ kết hoạt động ngân hàng 6 tháng đầu năm và triển khai nhiệm vụ 6 tháng cuối năm 2022.
8. Một số tài liệu khác.

 
Phúc Lâm (NHNN)
Bình luận Ý kiến của bạn sẽ được kiểm duyệt trước khi đăng. Vui lòng gõ tiếng Việt có dấu
Đóng lại ok
Bình luận của bạn chờ kiểm duyệt từ Ban biên tập
Tương lai tiền điện tử và những quy định quản lý
Tương lai tiền điện tử và những quy định quản lý
05/12/2022 29 lượt xem
Trong thời gian qua, người dân ở nhiều quốc gia trên thế giới khá quan tâm đến tiền điện tử. Tương lai của tiền điện tử là một chủ đề nóng không chỉ giữa các nhà đầu tư mà còn trong xã hội, từ những nhà đầu tư lâu năm như Elon Musk cho đến những người trẻ, thậm chí cả học sinh trường trung học.
Ngân hàng ảo - Xu thế phát triển ngân hàng trong tương lai
Ngân hàng ảo - Xu thế phát triển ngân hàng trong tương lai
02/12/2022 151 lượt xem
Tại Việt Nam, mô hình NeoBank còn ở giai đoạn sơ khai. Với tiềm năng, thế mạnh đi đầu trong chuyển đổi số, ngành Ngân hàng đang và sẽ có những bứt phá trong việc cung ứng sản phẩm, dịch vụ trên nền tảng công nghệ hiện đại, trong đó có xu hướng phát triển NeoBank.
Kỹ thuật khai thác dữ liệu trong lĩnh vực tài chính, ngân hàng
Kỹ thuật khai thác dữ liệu trong lĩnh vực tài chính, ngân hàng
30/11/2022 236 lượt xem
Gian lận tài chính là mối quan tâm của xã hội, do các hậu quả của nó gây ra cho nhiều đối tượng, từ cá nhân đến Chính phủ, các tổ chức và công ty thương mại tài chính. Ngày nay, sự phát triển của công nghệ đã giúp cho các giao dịch ngân hàng ngày càng đơn giản và tiện lợi.
Ứng dụng công nghệ số trong hoạt động ngân hàng tại Việt Nam: Thực trạng và giải pháp
Ứng dụng công nghệ số trong hoạt động ngân hàng tại Việt Nam: Thực trạng và giải pháp
24/11/2022 591 lượt xem
Sự phát triển của công nghệ số đang dần làm thay đổi cơ bản các hình thức cung ứng dịch vụ ngân hàng truyền thống. Các ngân hàng thương mại (NHTM) trong nước đã triển khai ứng dụng nhiều công nghệ tiên tiến vào hoạt động ngân hàng như: AI, ML, Cloud Computing, Big Data, IoT để đánh giá, phân loại khách hàng và quyết định giải ngân hay giúp đơn giản hóa các quy trình, thủ tục và rút ngắn thời gian giao dịch.
Chuyển đổi số ngành Ngân hàng: Hoàn thiện và đồng bộ về pháp lý để tăng kết nối, chia sẻ dữ liệu an toàn
Chuyển đổi số ngành Ngân hàng: Hoàn thiện và đồng bộ về pháp lý để tăng kết nối, chia sẻ dữ liệu an toàn
21/11/2022 625 lượt xem
Trong chương trình chuyển đổi số giai đoạn hiện nay, bên cạnh một số thách thức như vốn đầu tư cho công nghệ, nhân sự, an ninh, bảo mật, ngành Ngân hàng đang gặp khó khăn về hành lang pháp lý do còn thiếu và chưa đồng bộ. Do đó, thời gian tới, cần tiếp tục hoàn thiện các chính sách tạo điều kiện cho chia sẻ dữ liệu, kết nối giữa các bộ, ngành liên quan với ngành Ngân hàng một cách an toàn, hiệu quả, đảm bảo mang lại lợi ích cho toàn dân.
Về điều kiện phát triển Mobile-Money ở Việt Nam hiện nay
Về điều kiện phát triển Mobile-Money ở Việt Nam hiện nay
17/11/2022 675 lượt xem
Sự phát triển của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư thời gian qua đã tạo điều kiện thuận lợi cho sự ra đời và phát triển nhanh chóng của nhiều phương thức thanh toán điện tử. Một trong những phương thức thanh toán điện tử đang được sử dụng rộng khắp trên thế giới và có tốc độ phát triển nhanh nhất hiện nay là Mobile-Money.
Lịch sử công nghệ kỹ thuật số trong hoạt động ngân hàng
Lịch sử công nghệ kỹ thuật số trong hoạt động ngân hàng
16/11/2022 693 lượt xem
Công nghệ số, chuyển đổi số là những cụm từ được nhắc tới nhiều nhất trong thời gian gần đây bởi những tác động mạnh mẽ tới mọi mặt của đời sống và xã hội. Trong đó, ngành Ngân hàng là một trong những ngành đón nhận nhiều cơ hội như giảm thiểu chi phí, nâng cao hiệu quả hoạt động, cải thiện quy trình…
Nhận diện rủi ro đối với hoạt động định danh khách hàng điện tử (eKYC) trong hoạt động ngân hàng
Nhận diện rủi ro đối với hoạt động định danh khách hàng điện tử (eKYC) trong hoạt động ngân hàng
08/11/2022 1.083 lượt xem
Tại Việt Nam, trước khi cơ sở pháp lý chính thức cho eKYC trong việc mở tài khoản thanh toán được ban hành (Thông tư số 16/2020/TT-NHNN ngày 04/12/2020 của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước (NHNN) sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 23/2014/TT-NHNN ngày 19/8/2014 của Thống đốc NHNN hướng dẫn việc mở và sử dụng tài khoản thanh toán tại tổ chức cung ứng dịch vụ thanh toán), ngành Ngân hàng đã lần lượt ứng dụng eKYC vào quy trình nhận biết khách hàng và cung cấp các sản phẩm, dịch vụ tài chính.
Tác động của độ bảo mật tới ý định sử dụng ngân hàng di động trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh
Tác động của độ bảo mật tới ý định sử dụng ngân hàng di động trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh
26/10/2022 1.320 lượt xem
Khi việc sử dụng ngân hàng di động tiếp tục phát triển, cần phải chú ý đến tính bảo mật của các giao dịch tài chính. Mục đích của nghiên cứu này là xem xét tác động của độ bảo mật đối với ý định sử dụng ngân hàng di động.
Tiền di động - Một năm nhìn lại
Tiền di động - Một năm nhìn lại
25/10/2022 1.402 lượt xem
Cung cấp dịch vụ tài chính vi mô là một trong những hỗ trợ giúp cho người có thu nhập thấp thoát nghèo. Tuy nhiên, người có thu nhập thấp thường sống xa trung tâm, do vậy chi phí tiếp cận với các dịch vụ tài chính khá cao, cơ hội tiếp cận giảm đi. Nhiều nghiên cứu cho rằng, phát triển dịch vụ ngân hàng qua điện thoại mang lại nhiều tiện ích cho người sử dụng, đặc biệt là người sử dụng tài chính vi mô ở nhiều nước (Vong et al., 2012; Kumar, McKay & Rotman, 2010).
An toàn, bảo mật thông tin tài khoản của khách hàng - Nhiệm vụ quan trọng của ngân hàng trong cung cấp dịch vụ
An toàn, bảo mật thông tin tài khoản của khách hàng - Nhiệm vụ quan trọng của ngân hàng trong cung cấp dịch vụ
13/10/2022 1.847 lượt xem
Theo Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN), tính đến cuối tháng 6/2022, có gần 5,5 triệu tài khoản mở bằng phương thức trực tuyến (eKYC) đang hoạt động, gần 8,9 triệu thẻ mở bằng eKYC đang lưu hành và khoảng 123 triệu tài khoản thanh toán. Với sự phát triển của thương mại điện tử, thanh toán điện tử cũng tăng trưởng mạnh mẽ.
Pháp luật về chuyển đổi số ngành Ngân hàng và định hướng hoàn thiện
Pháp luật về chuyển đổi số ngành Ngân hàng và định hướng hoàn thiện
11/10/2022 2.203 lượt xem
Cách mạng công nghiệp lần thứ tư (CMCN 4.0) với sự kết hợp của công nghệ số đã và đang tác động lớn đến lĩnh vực ngân hàng. Theo đó, chuyển đổi số đang dần trở thành một xu hướng tất yếu của các ngân hàng, mang đến cho ngành Ngân hàng nhiều cơ hội chuyển mình nhưng cũng đặt ra không ít thách thức.
Bảo mật truyền thông IoT qua mạng di động trong hệ thống ngân hàng số
Bảo mật truyền thông IoT qua mạng di động trong hệ thống ngân hàng số
03/10/2022 2.012 lượt xem
Internet vạn vật (Internet of Things - IoT) là một trong các công nghệ hiện đại, đặc trưng cho kỷ nguyên của Cách mạng công nghiệp lần thứ tư.
Chuyển đổi ngân hàng số trong bối cảnh cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư và một số khuyến nghị
Chuyển đổi ngân hàng số trong bối cảnh cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư và một số khuyến nghị
21/09/2022 2.929 lượt xem
Trong nhiều năm trở lại đây, ngành công nghệ thông tin thực sự đã len lỏi vào từng ngóc ngách của đời sống xã hội nhờ sự phát triển bùng nổ của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư (CMCN 4.0). Bất kể một lĩnh vực hay ngành, nghề nào đều ứng dụng công nghệ thông tin, lĩnh vực ngân hàng cũng không nằm ngoài xu hướng chung đó. Đặc biệt, trong bối cảnh nền kinh tế thế giới đã và đang phục hồi từ đại dịch Covid-19, việc áp dụng công nghệ đóng vai trò ngày càng quan trọng trong nền kinh tế toàn cầu.
Chuyển đổi số ngành tài chính - ngân hàng tại Việt Nam trong bối cảnh hậu Covid-19
Chuyển đổi số ngành tài chính - ngân hàng tại Việt Nam trong bối cảnh hậu Covid-19
01/09/2022 4.690 lượt xem
Chuyển đổi số trong ngành tài chính - ngân hàng được xem là hệ quả tất yếu từ sự tác động của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư (CMCN 4.0) cũng như sự tác động mạnh mẽ của đại dịch Covid-19 trong bối cảnh hiện nay.
Giá vàngXem chi tiết

GIÁ VÀNG - XEM THEO NGÀY

Khu vực

Mua vào

Bán ra

HÀ NỘI

Vàng SJC 1L

66.500

67.520

TP.HỒ CHÍ MINH

Vàng SJC 1L

66.500

67.500

Vàng SJC 5c

66.500

67.520

Vàng nhẫn 9999

53.000

54.000

Vàng nữ trang 9999

52.800

53.600


Ngoại tệXem chi tiết
TỶ GIÁ - XEM THEO NGÀY 
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 24.627 24.857 24.754 26.138 28.541 29.755 170.32 180.30
BIDV 24.655 24.855 24.915 26.013 28.716 29.883 170.53 178.87
VietinBank 24.645 24.856 25.021 26.156 28.886 29.896 171.64 180.19
Agribank 24.640 24.855 25.147 26.225 28.899 29.682 174.11 180.63
Eximbank 24.620 24.855 25.044 25.697 28.953 29.708 172.21 176.70
ACB 24.600 24.855 25.119 26.701 29.135 29.691 172.39 176.56
Sacombank 24.620 24.857 25.081 25.996 29.089 29.855 172.56 180.11
Techcombank 24.700 24.853 25.080 25.730 28.970 29.730 171.40 177.00
LienVietPostBank 24.580 24.855 25.088 26.320 29.058 29.881 172.21 181.04
DongA Bank 24.660 24.857 26.930 27.410 31.560 32.110 203.80 210.30
(Cập nhật trong ngày)
Lãi SuấtXem chi tiết
(Cập nhật trong ngày)
Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,20
0,20
-
4,10
4,10
4,40
4,70
4,80
6,40
6,40
BIDV
0,10
-
-
-
4,10
4,10
4,40
4,70
4,80
6,40
6,40
VietinBank
0,10
0,20
0,20
0,20
4,10
4,10
4,40
4,70
4,80
6,40
6,40
Cake by VPBank
0,10
-
-
-
4,90
-
4,95
7,90
-
8,50
8,60
ACB
-
0,50
0,50
0,50
4,00
4,10
4,20
5,50
5,70
6,20
6,90
Sacombank
-
-
-
-
5,60
5,70
5,80
7,00
7,15
7,30
7,50
Techcombank
0,03
-
-
-
5,90
5,90
5,90
6,70
6,70
7,00
7,00
LienVietPostBank
0,10
0,10
0,10
0,10
6,00
6,00
6,00
6,50
6,50
5,90
6,40
DongA Bank
0,50
0,50
0,50
0,50
5,00
5,00
5,00
6,80
6,90
7,40
7,70
Agribank
0,30
-
-
-
4,10
4,10
4,40
4,80
4,80
6,40
6,40
Eximbank
0,20
0,50
0,50
0,50
4,50
4,60
4,70
6,00
6,10
6,60
6,60

Liên kết website
Bình chọn trực tuyến
Nội dung website có hữu ích với bạn không?