Thứ Tư, ngày 03 tháng 06 năm 2020

Xóa bỏ dần những rào cản nhằm thúc đẩy thanh toán qua thẻ

Ngày đăng:10:27 22/04/2020
Lượt xem: 602
Cỡ chữ
Thẻ ngân hàng đã và đang được người dân đón nhận tích cực và sử dụng hiệu quả trong đời sống bởi những tiện ích và dịch vụ thẻ mang lại, góp phần tích cực thúc đẩy thanh toán không dùng tiền mặt (TTKDTM) và phù hợp với xu thế của thế giới về thanh toán thẻ. Tuy nhiên, thói quen sử dụng tiền mặt của người dân trong thanh toán còn lớn và một trong những rào cản khiến thanh toán qua thẻ chưa tương xứng với tiện ích đưa lại cho xã hội chính là những băn khoăn về phí dịch vụ thẻ.
Thói quen tiêu dùng qua thẻ của người dân đã thay đổi so với 5 năm trước
 
Thống kê của Ngân hàng Nhà nước (NHNN) từ năm 2015 đến nay cho thấy, hoạt động thanh toán thẻ có sự phát triển khá toàn diện. Số lượng thẻ lưu hành đến cuối tháng 6/2019 tăng khoảng 31% so với cuối năm 2015; các NHTM đã tích hợp thêm nhiều tính năng vào thẻ ngân hàng để người dân có thể sử dụng thẻ để thanh toán cho nhiều hàng hóa, dịch vụ bán lẻ như thanh toán tiền điện, nước, cước viễn thông, bảo hiểm, phí giao thông, thanh toán trực tuyến, mua hàng hóa, dịch vụ tại các điểm chấp nhận thẻ (POS). Từ năm 2015 tới nay, số lượng giao dịch và giá trị thanh toán nội địa qua thẻ ngân hàng tăng trưởng cao, bình quân hàng năm đạt mức 67% về số lượng và 46% về giá trị; số lượng và giá trị thanh toán qua POS (bằng thẻ ngân hàng) trong giai đoạn này cũng có sự tăng trưởng khá mạnh, tăng bình quân hàng năm khoảng 59% về số lượng và 29% về giá trị. Điều này cho thấy, thẻ ngân hàng đã và đang được người dân đón nhận tích cực và sử dụng hiệu quả trong đời sống bởi những tiện ích và dịch vụ thẻ mang lại, góp phần tích cực thúc đẩy TTKDTM và phù hợp với xu thế của thế giới về thanh toán thẻ.
 
Thẻ ngân hàng tiếp tục phát triển, số lượng và giá trị giao dịch thẻ tăng trưởng tốt. Trong 6 tháng đầu năm 2019, số lượng giao dịch thanh toán nội địa qua thẻ ngân hàng đạt hơn 141 triệu giao dịch (tăng 22,1% so với cùng kỳ năm 2018) với tổng giá trị giao dịch hơn 366 nghìn tỷ đồng (tăng 22,7% so với cùng kỳ năm 2018); nhiều tính năng, tiện ích đã được tích hợp vào thẻ ngân hàng để sử dụng thanh toán hàng hóa, dịch vụ; đồng thời, nâng cao chất lượng dịch vụ, độ an toàn, bảo mật trong thanh toán thẻ. 
 
Theo Báo cáo “Thái độ thanh toán của người tiêu dùng” được Visa công bố  hồi tháng 3/2019 cho thấy, các hình thức thanh toán phi tiền mặt, đặc biệt là thanh toán kỹ thuật số đang được người Việt hưởng ứng tích cực hơn. Trong năm 2018, 73% số người tham gia khảo sát của Visa trả lời đang sử dụng thẻ ghi nợ và thẻ tín dụng, tăng 14% so với năm trước. Tỷ lệ có sử dụng các phương thức thanh toán kỹ thuật số gồm ứng dụng di động, thanh toán không tiếp xúc, thanh toán bằng mã QR lần lượt là 44%, 32% và 19%. Năm 2017, những người được hỏi chưa hề sử dụng các hình thức thanh toán này. Số lượng và tổng giá trị giao dịch qua thẻ Visa tại Việt Nam trong năm 2018 cũng tăng 25 và 37% so với năm 2017. Đặc biệt, thương mại điện tử là lĩnh vực chứng kiến sự tăng trưởng mạnh mẽ với tổng giá trị giao dịch qua thẻ năm 2018 tăng 40% so với cùng kỳ năm trước.
 
Triển khai nhiều giải pháp thúc đẩy thanh toán qua thẻ
 
Trong thời gian qua, Chính phủ, NHNN đã có nhiều giải pháp thúc đẩy TTKDTM, trong đó có hoạt động thẻ ngân hàng. Hoạt động TTKDTM đã có bước phát triển đáng ghi nhận. Cơ sở hạ tầng và công nghệ được chú trọng đầu tư, nâng cao chất lượng và phát huy hiệu quả. Công tác đảm bảo an ninh, an toàn hệ thống TTKDTM được coi trọng và tăng cường. Các dịch vụ, phương tiện thanh toán điện tử được phát triển mạnh và đa dạng với nhiều sản phẩm, phương tiện mới, đáp ứng nhu cầu thanh toán trong nền kinh tế. Người dân, nhất là người dân sống ở khu vực đô thị đã từng bước có thói quen sử dụng các phương tiện TTKDTM, đặc biệt là việc sử dụng thẻ để thanh toán tiền hàng hóa, dịch vụ. 
 
Nhằm mục tiêu đảm bảo an ninh, an toàn, bảo mật trong hoạt động thẻ ngân hàng, tạo thuận lợi cho việc gia tăng các tính năng, tiện ích cho chủ thẻ, ngày 05/10/2018, NHNN đã ban hành Quyết định số 1927/QĐ-NHNN công bố tiêu chuẩn cơ sở (TCCS) về thẻ chip nội địa, hướng tới mục tiêu chuyển đổi toàn bộ thẻ ngân hàng từ thẻ từ sang thẻ chip nội địa bằng công nghệ chip an toàn, bảo mật, đa tiện ích, đa ứng dụng cho mọi người dân Việt Nam.
 
Để khuyến khích thanh toán sử dụng thẻ ngân hàng, NHNN cũng đồng thời triển khai nhiều giải pháp đồng bộ như hoàn thiện về khuôn khổ pháp lý cho hoạt động thanh toán; xây dựng hạ tầng chuyển mạch thống nhất cho phép thẻ có thể sử dụng tại tất cả máy ATM/POS; đẩy mạnh phát triển thanh toán thẻ qua các kênh ATM, POS, Mobile, Internet; khuyến khích các ngân hàng đưa ra nhiều tính năng, tiện ích như chuyển tiền, nạp tiền, thanh toán hàng hóa/dịch vụ vào thẻ; tăng cường đảm bảo an ninh trong thanh toán thẻ (tiêu chuẩn thẻ chip, lắp các thiết bị chống sao chép dữ liệu (thiết bị skimming)…; chỉ đạo Công ty cổ phần Thanh toán Quốc gia Việt Nam (NAPAS) nghiên cứu, xây dựng lộ trình giảm phí chuyển mạch phù hợp để hỗ trợ thị trường thẻ....; Phối hợp chặt chẽ, hiệu quả với các cơ quan chức năng bảo vệ pháp luật, tăng cường các biện pháp đảm bảo an ninh, an toàn cho các hệ thống thanh toán, dịch vụ thanh toán mới; Đẩy mạnh công tác truyền thông, phổ biến kiến thức và phối hợp phòng, chống tội phạm công nghệ cao trong lĩnh vực ngân hàng; cảnh báo kịp thời những phương thức và thủ đoạn mới của tội phạm để có biện pháp phòng, chống hiệu quả. Các ngân hàng thương mại cũng đẩy mạnh tuyên truyền, khuyến cáo tới khách hàng các biện pháp tăng cường an ninh, bảo mật nhằm thúc đẩy TTKDTM. 
 

Thẻ ngân hàng đã, đang được người dân đón nhận tích cực và sử dụng hiệu quả trong đời sống
 
Mặc dù thanh toán điện tử , thanh toán qua thẻ thời gian qua có sự tăng trưởng mạnh, nhưng việc sử dụng tiền mặt trong giao dịch nhỏ lẻ vẫn còn phổ biến trong một bộ phận dân cư do nhiều nguyên nhân, trong đó có thói quen, tâm lý thích sử dụng tiền mặt còn phổ biến. Một bộ phận nguời sử dụng còn e ngại khi tiếp cận với sản phẩm, dịch vụ thanh toán mới, cũng như có những lo ngại nhất định về bảo mật, an toàn thông tin khi sử dụng phương thức thanh toán điện tử. Bên cạnh đó,  dịch vụ, ứng dụng thanh toán điện tử đã được quan tâm đầu tư, phát triển song vẫn chưa hoàn toàn đáp ứng được yêu cầu và phù hợp với hành vi người sử dụng. Cơ sở hạ tầng thanh toán như mạng lưới ATM/POS đã phát triển mở rộng nhưng phân bố chưa đều, tập trung chủ yếu ở khu vực thành thị, chưa phủ rộng tới địa bàn nông thôn, vùng sâu, vùng xa...
 
Một rào cản nữa khiến người dân còn chưa mặn mà sử dụng các phương thức thanh toán trực tuyến và thanh toán qua thẻ là vấn đề về phí dịch vụ thanh toán. Thời gian qua, dư luận có cho rằng có nhiều loại phí dịch vụ thẻ, mức phí quá cao, chưa phù hợp,... Do đó, việc tuyên truyền giúp người dân hiểu đúng về phí dịch vụ thẻ sẽ góp phần nâng cao khả năng tiếp cận sản phẩm dịch vụ ngân hàng, trong đó có thanh toán qua thẻ.
 
Hiểu đúng về phí dịch vụ thẻ
 
Liên quan đến phí dịch vụ thanh toán, Luật các Tổ chức tín dụng năm 2010 (Điều 91) và Nghị định số 101/2012/NĐ-CP ngày 22/11/2012 (đã sửa đổi, bổ sung) của Chính phủ về thanh toán không dùng tiền mặt (Điều 17) quy định tổ chức cung ứng dịch vụ thanh toán được quyền ấn định và phải niêm yết công khai mức phí cung ứng dịch vụ.
 
Nhằm đảm bảo sự công khai minh bạch trong thu phí dịch vụ thanh toán thẻ tại văn bản hướng dẫn về dịch vụ thẻ ngân hàng, NHNN có các quy định về việc thu phí dịch vụ thẻ như: (i) Tổ chức phát hành thẻ thu phí theo Biểu phí dịch vụ thẻ của tổ chức mình và không được thu thêm bất kỳ loại phí nào ngoài Biểu phí đã công bố. Biểu phí dịch vụ thẻ phải nêu rõ các loại phí, mức phí áp dụng cho từng loại thẻ và dịch vụ thẻ; (ii) Biểu phí dịch vụ thẻ của tổ chức phát hành thẻ phải được niêm yết công khai và phải cung cấp cho chủ thẻ trước khi sử dụng và khi có sự thay đổi; (iii) Các hình thức thông báo và cung cấp thông tin về phí cho chủ thẻ phải được quy định cụ thể trong hợp đồng phát hành và sử dụng thẻ. Thời gian từ khi thông báo đến khi áp dụng các thay đổi về phí tối thiểu là 07 ngày và phải được quy định cụ thể trong hợp đồng phát hành và sử dụng thẻ. 
 
Đối với phí dịch vụ thẻ ghi nợ nội địa, tại Thông tư số 35/2012/TT-NHNN ngày 28/12/2012 của NHNN đã quy định Biểu khung mức phí dịch vụ thẻ ghi nợ nội địa gồm một số loại phí cơ bản như: phí phát hành thẻ, phí thường niên, phí rút tiền mặt, phí chuyển khoản để các ngân hàng thực hiện, các loại phí khác thực hiện theo thỏa thuận.
 
Căn cứ các quy định nêu trên, NHNN không quy định mức phí dịch vụ thanh toán mà tổ chức cung ứng dịch vụ thanh toán áp dụng đối với khách hàng. Theo đó, tương ứng với mỗi loại sản phẩm, dịch vụ cung ứng cho khách hàng, ngân hàng cung ứng dịch vụ chủ động tính toán, xác định mức phí phù hợp trên cơ sở cân đối với chi phí và phân khúc thị trường, khách hàng.
 
Thanh toán bằng thẻ tín dụng mang lại trải nghiệm tiện lợi và tiện ích cho khách hàng

Trên thực tế, trong nhiều năm qua, các ngân hàng đã tăng cường đầu tư, đổi mới hạ tầng công nghệ thông tin, phần mềm, mạng lưới ATM/POS,... nhằm nâng cao chất lượng dịch vụ cũng như cung ứng những phương tiện, dịch vụ thanh toán mới, tiện lợi. Do đó, việc ngân hàng thu phí khi cung ứng dịch vụ cho khách hàng là phù hợp với quy định pháp luật hiện hành, góp phần bù đắp một phần chi phí đầu tư, vận hành hệ thống và tái đầu tư trong hoạt động kinh doanh.
 
Đối với các giao dịch rút tiền, chuyển khoản khác hệ thống, đây là dịch vụ gia tăng trên thẻ, mang lại nhiều tiện ích, giúp khách hàng thực hiện thanh toán, chuyển tiền thuận tiện, tiết kiệm thời gian giao dịch thông qua hệ thống ATM/POS, Internet Banking, Mobile Banking,... của nhiều ngân hàng khác nhau. Khác với các giao dịch nội mạng (được thực hiện trong cùng hệ thống ngân hàng), các giao dịch thanh toán khác hệ thống cần được xử lý qua một hệ thống trung gian kết nối giữa các ngân hàng (hệ thống thanh toán điện tử liên ngân hàng, hệ thống chuyển mạch, bù trừ,...) cũng như cần có sự tham gia của các ngân hàng, tổ chức cung ứng dịch vụ trung gian thanh toán khác, do đó sẽ phát sinh thêm những chi phí nhất định. Vì vậy, nhìn chung trên cơ sở cân đối chi phí, các ngân hàng thông thường sẽ áp dụng mức phí giao dịch khác hệ thống cao hơn mức phí giao dịch nội bộ trong hệ thống. 
 
Về phía NHNN, thực hiện vai trò quản lý nhà nước về phí dịch vụ thanh toán, thời gian qua,  để tác động làm giảm các mức phí giao dịch thanh toán liên ngân hàng, NHNN đã thực hiện việc tác động gián tiếp đến mặt bằng phí, cách thức thu phí trên thị trường thông qua điều chỉnh các loại phí, mức phí hệ thống thanh toán điện tử liên ngân hàng do NHNN quản lý, vận hành. Bên cạnh đó, NHNN đã chỉ đạo NAPAS nghiên cứu, xây dựng lộ trình giảm phí chuyển mạch phù hợp để hỗ trợ thị trường thẻ và từ năm 2018, NAPAS đã 02 lần điều chỉnh giảm phí chuyển mạch, cụ thể: từ ngày 01/03/2018 đã điều chỉnh giảm phí rút tiền tại ATM và phí thanh toán tại POS của ngân hàng thanh toán và từ ngày 01/03/2019, tiếp tục điều chỉnh giảm phí rút tiền tại ATM của ngân hàng thanh toán xuống mức thu bằng 0 đồng. 
 
Như vậy, tính đến nay, NAPAS hiện đã điều chỉnh giảm 33% phí dịch vụ chuyển mạch qua ATM và 25% phí chuyển mạch qua POS thu từ các ngân hàng thành viên so với mức phí dịch vụ trước năm 2019 và kể từ ngày 01/5/2019, NAPAS tiếp tục thực hiện chương trình giảm phí dịch vụ chuyển mạch (phí vấn tin, in sao kê, chuyển khoản nội bộ, đổi PIN; phí các giao dịch thanh toán tại POS, phí các giao dịch rút tiền tại ATM) đối với các ngân hàng đã hoàn thành các điều kiện kỹ thuật để chuyển đổi thẻ từ sang thẻ chip.
 
Kết hợp các giải pháp thời gian tới nhằm thúc đẩy TTKDTM 
 
Nhận thức được ý nghĩa, tầm quan trọng của việc hoàn thiện khuôn khổ pháp lý, xây dựng cơ chế chính sách thúc đẩy TTKDTM,  theo Vụ Thanh toán (NHNN), trong thời gian tới, NHNN tập trung vào một số nhiệm vụ, giải pháp cụ thể sau:
 
Thứ nhất, tiếp tục hoàn thiện cơ sở pháp lý tạo thuận lợi cho việc ứng dụng các công nghệ mới, mô hình, giải pháp đổi mới sáng tạo vào hoạt động thanh toán cũng như cho sự ra đời, phát triển các dịch vụ thanh toán mới.
 
Thứ hai, xây dựng, hoàn thiện và nâng cấp hạ tầng thanh toán quốc gia (Thanh toán điện tử liên ngân hàng; Thanh toán bù trừ điện tử; chuyển mạch thẻ) làm nền tảng kết nối tới các ngân hàng, hỗ trợ thanh toán liên thông các dịch vụ công và tạo cơ sở triển khai các sản phẩm, dịch vụ thanh toán mới.
 
Thứ ba, nghiên cứu, áp dụng các công nghệ, phương thức thanh toán hiện đại như thanh toán thuận tiện qua mã phản hồi nhanh (QR code), thanh toán an toàn, nhanh chóng nhờ mã hóa thông tin thẻ (Tokenization), thanh toán di động (Mobile payment), thanh toán phi tiếp xúc (NFC)... 
 
Thứ tư, tiếp tục nghiên cứu, triển khai các mô hình thanh toán tại nông thôn, vùng sâu, vùng xa gắn với việc xây dựng, triển khai Chiến lược quốc gia về Tài chính toàn diện tại Việt Nam;...
 
Thứ năm, thúc đẩy thanh toán điện tử trong khu vực Chính phủ, dịch vụ công gắn với triển khai Đề án phát triển TTKDTM và Đề án đẩy mạnh thanh toán qua ngân hàng đối với việc thu phí các dịch vụ công như điện, nước, học phí, viện phí và chi trả các chương trình an sinh xã hội.
 
Thứ sáu, giám sát các hệ thống thanh toán đảm bảo hoạt động an toàn, hiệu quả; tăng cường công tác đảm bảo an ninh, an toàn trong thanh toán điện tử; áp dụng các tiêu chuẩn an toàn bảo mật thanh toán theo chuẩn quốc tế (PCI-DSS, Tiêu chuẩn thẻ chip nội địa...); giám sát hoạt động các tổ chức cung ứng dịch vụ TGTT đảm bảo hoạt động đúng quy định.
 
Thứ bảy, đẩy mạnh truyền thông, tuyên truyền về TTKDTM, phổ biến kiến thức tài chính về các sản phẩm, dịch vụ thanh toán, kỹ năng thực hiện giao dịch thanh toán. Theo đó, các ngân hàng thương mại cũng tăng cường truyền thông, khuyến cáo đến khách hàng/người dân như: Tuân thủ các quy định, hướng dẫn của các ngân hàng cung cấp dịch vụ ngân hàng, đăng ký nhận tin thông báo thay đổi số dư giao dịch; Sử dụng các dịch vụ cộng thêm của ngân hàng như: dịch vụ tự động nhắn tin giao dịch vào máy di động của khách hàng, dịch vụ tra cứu giao dịch online,... để theo dõi biến động tài khoản của mình và phát hiện được các giao dịch gian lận;  Khi gặp sự cố trong thanh toán trực tuyến và thanh toán thẻ người dân cần bình tĩnh phối hợp với các tổ chức cung ứng dịch vụ thanh toán và tổ chức cung ứng dịch vụ trung gian thanh toán, các cơ quan điều tra để tư vấn hỗ trợ và giải quyết theo quy định của pháp luật. Đặc biệt, cần nâng cao ý thức cảnh giác trước những thủ đoạn gian lận/lừa đảo, trộm cắp thông tin thẻ của tội phạm mạng khi thực hiện các giao dịch thanh toán trực tuyến; đồng thời chỉ nên thực hiện giao dịch với các doanh nghiệp, Website bán hàng hóa, dịch vụ có uy tín, đáng tin cậy, có lịch sử hoạt động nhất định trên thị trường.
 
Ngoài ra, phía khách hàng/người sử dụng thẻ cần bảo mật thông tin cá nhân, thông tin tài khoản, mã số cá nhân (PIN), mã xác thực giao dịch OTP, mã xác minh thẻ (CVV/CVC)… để tránh bị đánh cắp, lợi dụng (không cung cấp tài khoản đăng nhập, mật khẩu, OTP trong bất kỳ trường hợp nào yêu cầu để nhận/nạp tiền; không sử dụng mã PIN gắn liền với các thông tin cá nhân như số di động, số chứng minh thư, ngày sinh, ghi số PIN bỏ vào ví; không nạp/chuyển tiền theo yêu cầu của người lạ khi nhận được các cuộc gọi lạ...). Khách hàng không mở hộ thẻ/tài khoản cho người khác, kể cả cho mượn hoặc bán.

Nguyễn Thanh Lan
 

Nguồn: TCNH chuyên đề THNH số 7/2019

Bình luận Ý kiến của bạn sẽ được biên tập trước khi đăng. Xin vui lòng gõ tiếng Việt có dấu
Tâm lý nhà đầu tư trên thị trường tài chính Việt Nam

Thị trường tiền tệ

Trên thị trường, tâm lý các nhà đầu tư luôn chi phối rất lớn đến mức độ ổn định của thị trường, đặc biệt là đối với thị trường tài chính, sự tác động của yếu tố tâm lý luôn diễn biến rất phức tạp, khiến thị trường tài chính luôn tiềm ẩn yếu tố bất ổn định rất cao