VND - Đồng tiền hiếm hoi giữ giá ổn định từ đầu năm đến nay
10/10/2019 1.411 lượt xem
Trong khi các đồng tiền chủ chốt đều biến động mạnh, có những đồng tiền mất giá tới 8-11% (như KWR, SEK) nhưng cũng có những đồng tiền lên giá 5-7% (như RUB, THB) so với USD, VND trở thành một trong những đồng tiền hiếm hoi có tỷ giá ổn định so với USD.


 

Theo nghiên cứu được công bố bởi Công ty Cổ phần Chứng khoán Sài Gòn (SSI) ngày 8/10, từ đầu năm đến nay, VND có một lần tạo sóng từ cuối tháng 4 đến hết tháng 5 nhưng mức tỷ giá mua vào của các ngân hàng ở đỉnh sóng cũng chỉ tăng 0.84% so với cuối năm 2018, ở mức 23.360đ/USD, sau đó nhanh chóng hạ nhiệt. Ngay cả khi áp lực rất lớn và đột ngột đến từ tỷ giá USD/CNY vượt qua ngưỡng 7.0 và CNY liên tục giảm giá, mức giảm lên tới gần 4% chỉ trong tháng 8/2019; VND vẫn đi ngang, thậm chí còn giảm.

Tính riêng tháng 9, tỷ giá USD/VND tăng 10đ/USD trên ngân hàng lên mức 23.140/23.260 nhưng lại giảm 30đ/USD trên thị trường tự do, về mức 23.180/23.205.

Các chuyên gia của SSI chỉ ra rằng, so với thời điểm cuối năm 2018, tỷ giá giao dịch USD/VND đã giảm 0.11% trên ngân hàng và khi giảm tới 0.39% trên thị trường tự do. FDI giải ngân trong tháng 9/2019 đạt 2.26 tỷ USD, +13% YoY và 60.3% MoM; lũy kế 9 tháng năm 2019 đạt 14.2 tỷ USD, vốn FDI đăng ký cũng tăng mạnh lên mức 26.2 tỷ USD. Cán cân thương mại hàng hóa trong 9 tháng 2019 thặng dư cao nhất từ trước đến nay, tới 7.1 tỷ USD. Dòng vốn đầu tư gián tiếp và kiều hối cũng khá tích cực khiến cho nguồn cung ngoại tệ trong quý 3 rất dồi dào. Bất chấp chênh lệch lãi suất VND-USD trên liên ngân hàng giảm mạnh về quanh mức 0, tỷ giá vẫn đi ngang.

Trong khi đó, tỷ giá trung tâm lại liên tục được điều chỉnh tăng, mức tăng tổng cộng 9 tháng 2019 lên tới 335đ/USD - tương đương 1.47% Ytd, lên mức 23.160đ/USD. Như vậy, các tỷ giá điều hành gồm tỷ giá trung tâm, tỷ giá mua vào - bán ra của NHNN đều đang ở mức cao hơn so với tỷ giá giao dịch, tạo điều kiện thuận lợi để NHNN mua thêm ngoại tệ, gia tăng dự trữ ngoại hối.

“Chúng tôi cho rằng, khi nguồn ngoại tệ dư thừa được hút bớt, tỷ giá cuối năm có thể sẽ nhích tăng, tiệm cận về tỷ giá mua vào của Ngân hàng Nhà nước (NHNN)”, đại diện của SSI cho biết.

Trái phiếu doanh nghiệp sơ cấp trong tháng 9 chủ yếu là của các NHTM

Trong tháng 9/2019 có 25.516 tỷ đồng trái phiếu doanh nghiệp được phát hành mới trong đó có tới 21.071 tỷ đồng (tương đương 82.6%) là trái phiếu do các ngân hàng thương mại (NHTM) phát hành. Những ngân hàng phát hành nhiều nhất trong tháng 9 là TCB, CTG, BID, ACB, OCB…

Tính chung 9 tháng đầu năm 2019, tổng lượng trái phiếu doanh nghiệp phát hành là 155.306 tỷ đồng trong đó các NHTM vẫn là tổ chức phát hành lớn nhất với tổng lượng phát hành hơn 75.936 tỷ đồng (chiếm 49%), đứng sau là các doanh nghiệp bất động sản (47.372 tỷ đồng - chiếm 26.4%), còn lại là các công ty phát triển hạ tầng, công ty chứng khoán và các doanh nghiệp khác.

Theo SSI, tháng 9 là tháng phát hành nhiều nhất của các NHTM tính từ đầu năm đến nay. Lãi suất phát hành bình quân của trái phiếu ngân hàng trong tháng 8 và tháng 9 là 7.1% và 7.0% - cao hơn so với các tháng trước đó chủ yếu là do các ngân hàng phát hành trái phiếu kỳ hạn dài hơn. Thay vì chỉ phát hành trái phiếu 2-3 năm như các tháng trước, trong tháng 8 và 9/2019, các NHTM đã đẩy mạnh phát hành trái phiếu kỳ hạn 5 năm, 7 năm và 10 năm. Các ngân hàng phát hành trái phiếu kỳ hạn dài nhiều nhất là Vietinbank, BIDV, Seabank.

Trái lại, lãi suất bình quân trong tháng 9 của trái phiếu bất động sản lại giảm mạnh xuống 8.1%. Tuy nhiên lượng phát hành trong tháng chỉ là 1.797 tỷ đồng của 4 tổ chức phát hành là công ty TNHH Phát triển Phú Mỹ Hưng, Nova Tân Gia Phát, CTCP Quản lý và Phát triển Gia Khánh và CTCP Sunshine Marina Nha Trang. Ngoại trừ lô trái phiếu 460 tỷ của Gia Khánh có lãi suất thả nổi với kỳ đầu là 10.5%/năm, các trái phiếu còn lại đều có lãi suất khá thấp, đặc biệt là 2 lô của Nova Tân Gia Phát chỉ có lãi suất 6%/năm và được các cá nhân trong nước mua toàn bộ. Chỉ có khoảng 62% lượng chào bán được mua, hầu hết lô phát hành đều dư khá nhiều trong đó dư nhiều nhất là của Phú Mỹ Hưng khi chỉ phát hành đươc 800 tỷ đồng trên tổng cộng 1.700 tỷ đồng chào bán, bên mua 100% là các nhà đầu tư nước ngoài.
 

Mai Ca
 

Nguồn: Báo Công Thương Điện Tử
Bình luận Ý kiến của bạn sẽ được kiểm duyệt trước khi đăng. Vui lòng gõ tiếng Việt có dấu
Đóng lại ok
Bình luận của bạn chờ kiểm duyệt từ Ban biên tập
Đảng ủy cơ quan NHTW: Triển khai hiệu quả nhiệm vụ chính trị và công tác xây dựng Đảng
Đảng ủy cơ quan NHTW: Triển khai hiệu quả nhiệm vụ chính trị và công tác xây dựng Đảng
24/01/2022 47 lượt xem
Ngày 21/01/2022, tại Hà Nội, Đảng ủy cơ quan Ngân hàng Trung ương (NHTW) đã tổ chức Hội nghị Ban Chấp hành lần thứ 7 mở rộng nhiệm kỳ 2020 – 2025. Hội nghị do đồng chí Nguyễn Thị Hồng - Ủy viên Trung ương Đảng, Bí thư Ban Cán sự Đảng, Bí thư Đảng ủy Cơ quan NHTW, Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN) chủ trì.
10 sự kiện nổi bật ngành Ngân hàng năm 2021
10 sự kiện nổi bật ngành Ngân hàng năm 2021
24/01/2022 50 lượt xem
Trong năm 2021, nước ta đã diễn ra nhiều sự kiện đặc biệt quan trọng: Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng, bầu cử Đại biểu Quốc hội khóa XV, Đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2021 - 2026. Đối với ngành Ngân hàng là sự kiện đặc biệt kỷ niệm 70 năm thành lập Ngành cùng nhiều sự kiện quan trọng khác. Tạp chí Ngân hàng điểm 10 sự kiện nổi bật của ngành Ngân hàng trong năm 2021 đáng ghi nhớ này.
Hoàn thiện Luật Bảo hiểm tiền gửi - Củng cố an toàn hệ thống các tổ chức tín dụng và bảo vệ tốt hơn quyền lợi người gửi tiền
Hoàn thiện Luật Bảo hiểm tiền gửi - Củng cố an toàn hệ thống các tổ chức tín dụng và bảo vệ tốt hơn quyền lợi người gửi tiền
21/01/2022 69 lượt xem
Luật Bảo hiểm tiền gửi (BHTG) là văn bản pháp lý cao nhất và toàn diện nhất điều chỉnh hoạt động BHTG.
Giá vàngXem chi tiết
Khu vực Mua vào Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L 61.250 61.870
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L 61.250 61.850
Vàng SJC 5c 61.250 61.870
Vàng nhẫn 9999 52.800 53.500
Vàng nữ trang 9999 52.500 53.200

Ngoại tệXem chi tiết
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 22.520 22.830 26.488 27.866 31.023 32.318 204.16 214.87
BIDV 22.560 22.840 26.575 27.683 31.139 32.402 203.99 213.29
VietinBank 22.538 22.838 26.607 27.727 31.399 32.409 204.47 213.47
Agribank 22.580 22.820 26.787 27.493 31.334 32.117 205.87 211.70
Eximbank 22.590 22.790 26.871 27.398 31.480 32.096 206.75 210.81
ACB 22.580 22.780 26.814 27.429 31.401 31.993 206.11 211.05
Sacombank 22.550 22.842 26.953 27.513 31.568 32.084 206.29 212.66
Techcombank 22.558 22.833 26.643 27.863 31.118 32.281 205.24 214.28
LienVietPostBank 22.590 22.790 26.875 27.928 31.504 31.988 207.19 213.97
DongA Bank 22.610 22.790 26.930 27.410 31.560 32.110 203.80 210.30

Lãi SuấtXem chi tiết
Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,20
0,20
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,50
5,30
BIDV
0,10
-
-
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
VietinBank
0,10
0,20
0,20
0,20
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
Eximbank
0,10
0,20
0,20
0,20
3,50
3,50
3,50
5,60
5,80
6,10
6,30
ACB
-
0,20
0,20
0,20
3,00
3,10
3,20
4,40
4,80
5,50
6,20
Sacombank
0,03
-
-
-
3,10
3,20
3,30
4,60
4,90
5,50
6,00
Techcombank
0,03
-
-
-
2,45
2,45
2,65
3,90
3,90
4,50
4,50
LienVietPostBank
0,10
0,10
0,10
0,10
3,10
3,10
3,40
4,20
4,40
5,60
5,60
DongA Bank
-
0,20
0,20
0,20
3,40
3,40
3,40
5,30
5,50
5,80
6,10
Agribank
0,10
-
-
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60

Liên kết website
Bình chọn trực tuyến
Nội dung website có hữu ích với bạn không?