Vấn đề lãi suất và phạt vi phạm trong hợp đồng cho vay - thực trạng và kiến nghị

Ngày đăng:03:22 26/12/2018
Lượt xem: 27.030
Cỡ chữ
TS. Nguyễn Văn Phương

Trong nhiều năm qua và cho đến nay, cho vay vẫn là hình thức cấp tín dụng chủ yếu và quan trọng đối với các tổ chức tín dụng Việt Nam xuất phát từ tổng dư nợ, số lượng khách hàng và lợi nhuận từ hình thức cấp tín dụng này mang lại cho tổ chức tín dụng. Lãi suất cho vay trong hợp đồng tín dụng bao gồm lãi suất cho vay trong hạn và lãi suất cho vay quá hạn. Việt Nam đã trở thành thành viên chính thức thứ 150 của Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) kể từ ngày 11/01/2007, nên cùng với quá trình xây dựng nền kinh tế theo cơ chế thị trường, đổi mới các lĩnh vực của đời sống kinh tế - xã hội, hệ thống pháp luật cũng không ngừng được rà soát, sửa đổi, bổ sung, hoàn thiện để đáp ứng yêu cầu đổi mới và hội nhập quốc tế. Trong lĩnh vực tài chính - ngân hàng, Ngân hàng Nhà nước sử dụng nhiều công cụ khác nhau, trong đó có lãi suất, để thực hiện điều hành chính sách tiền tệ thông qua việc ban hành các văn bản quy phạm pháp luật thuộc thẩm quyền của mình. Sau nhiều năm thực hiện điều hành lãi suất cho vay theo cơ chế trần/sàn, ngày 26/02/2010, Ngân hàng Nhà nước ban hành Thông tư số 07/2010/TT-NHNN cho phép tổ chức tín dụng và khách hàng được thỏa thuận lãi suất cho vay phù hợp với quy định của pháp luật về cho vay của tổ chức tín dụng đối với khách hàng và trên cơ sở cung - cầu vốn thị trường, mức độ tín nhiệm của khách hàng vay. Chỉ sau chưa đến 02 tháng, Thông tư số 07 này bị tuyên bố hết hiệu lực và thay vào đó bằng Thông tư số 12/2010/TT-NHNN ngày 14/04/2010 của Ngân hàng Nhà nước cho phép tổ chức tín dụng thực hiện cho vay bằng đồng Việt Nam theo lãi suất thỏa thuận đối với khách hàng nhằm đáp ứng nhu cầu của dự án, phương án sản xuất, kinh doanh, dịch vụ, đầu tư phát triển và đời sống có hiệu quả. Sau đó, Luật các Tổ chức tín dụng năm 2010 quy định tổ chức tín dụng có quyền thỏa thuận về lãi suất cấp tín dụng trong hoạt động ngân hàng của tổ chức tín dụng. Tuy nhiên, trong thời gian này, một số Tòa án ở các tỉnh/thành phố trực thuộc trung ương trong cả nước đã không công nhận lãi suất thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng với lý do lãi suất thỏa thuận giữa tổ chức tín dụng với khách hàng không phù hợp với quy định tại khoản 5 Điều 474 và khoản 1 Điều 476 Bộ luật Dân sự năm 2005: “5. Trong trường hợp vay có lãi mà khi đến hạn bên vay không trả hoặc trả không đầy đủ thì bên vay phải trả lãi trên nợ gốc và lãi nợ quá hạn theo lãi suất cơ bản do Ngân hàng Nhà nước công bố tương ứng với thời hạn vay tại thời điểm trả nợ” (Điều 474); “1. Lãi suất vay do các bên thỏa thuận nhưng không được vượt quá 150% của lãi suất cơ bản do Ngân hàng Nhà nước công bố đối với loại cho vay tương ứng” (Điều 476). Với quan điểm này của Tòa án thì hợp đồng tín dụng có nội dung lãi suất thỏa thuận bị Tòa án tuyên bố vô hiệu và tổ chức tín dụng phải gánh chịu hậu quả pháp lý của hợp đồng vô hiệu (không được yêu cầu khách hàng trả lãi tiền vay) dẫn tới nhiều hệ lụy tác động, ảnh hưởng đến hệ thống ngân hàng và nền kinh tế.      
Hiện nay, lãi suất cho vay được các tổ chức tín dụng thỏa thuận với khách hàng và được xác định cụ thể trong hợp đồng/thỏa thuận cho vay/hợp đồng tín dụng (sau đây gọi chung là “hợp đồng cho vay”) trên cơ sở quy định của Bộ luật Dân sự số 91/2015/QH13, Luật các Tổ chức tín dụng số 47/2010/QH12 và các văn bản hướng dẫn của Ngân hàng Nhà nước. Ngoài vấn đề lãi suất trong hợp đồng cho vay, phạt vi phạm cũng là một trong các nội dung chủ yếu của hợp đồng cho vay. Tuy nhiên, vấn đề lãi suất và phạt vi phạm trong hợp đồng cho vay trong quá trình thực hiện vẫn còn các ý kiến khác nhau về cơ sở xác định, đặc biệt khi có tranh chấp phát sinh liên quan đến hợp đồng cho vay và vụ việc phải giải quyết tại Tòa án. Do vậy, trong phạm vi bài này và dưới góc độ pháp lý, người viết xin được trình bày một số vấn đề về lãi suất và phạt vi phạm được quy định trong hợp đồng cho vay giữa tổ chức tín dụng và khách hàng.
 
1. Lãi suất cho vay trong hợp đồng cho vay
Hợp đồng cho vay về bản chất là một hình thức cụ thể của hợp đồng vay tài sản, là sự thỏa thuận giữa bên cho vay với bên đi vay, ghi nhận ý chí của các bên phù hợp với quy định của pháp luật và đạo đức xã hội. Ý chí của các bên được thể hiện bằng những cam kết, thỏa thuận cụ thể trong hợp đồng cho vay. Khi hợp đồng cho vay được ký kết thì ý chí của các bên được xác lập và các bên phải có nghĩa vụ tuân thủ những cam kết, thỏa thuận đó trong hợp đồng cho vay. Các văn bản quy phạm pháp luật làm cơ sở pháp lý để các bên thương lượng, đàm phán, thể hiện ý chí và ghi trong hợp đồng cho vay phải đang còn hiệu lực tại thời điểm ký kết hợp đồng và điều chỉnh nội dung của hợp đồng cho vay. Điều này hoàn toàn phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 156 Luật ban hành văn bản quy phạm năm 2015: Văn bản quy phạm pháp luật được áp dụng đối với hành vi xảy ra tại thời điểm mà văn bản đó đang có hiệu lực.
1.1. Lãi suất cho vay trong hạn
Tại Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định lãi suất vay do các bên thỏa thuận. Trường hợp các bên có thỏa thuận về lãi suất thì lãi suất theo thỏa thuận không được vượt quá 20%/năm của khoản tiền vay, trừ trường hợp luật khác có liên quan quy định khác. Trường hợp các bên có thỏa thuận về việc trả lãi, nhưng không xác định rõ lãi suất và có tranh chấp về lãi suất thì lãi suất được xác định bằng 50% mức lãi suất giới hạn quy định tại khoản 1 Điều này tại thời điểm trả nợ.
Tại khoản 2 Điều 91 Luật các Tổ chức tín dụng năm 2010 quy định tổ chức tín dụng và khách hàng có quyền thỏa thuận về lãi suất, phí cấp tín dụng trong hoạt động ngân hàng của tổ chức tín dụng theo quy định của pháp luật.
Căn cứ quy định tại Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015 thì Luật các Tổ chức tín dụng năm 2010 được coi là luật khác có liên quan cho phép các bên được thỏa thuận lãi suất cho vay trong hợp đồng cho vay. Tuy nhiên, khoản 2 Điều 91 Luật các Tổ chức tín dụng năm 2010 không quy định mang tính chất khẳng định tổ chức tín dụng và khách hàng có quyền thỏa thuận về lãi suất mà yêu cầu lãi suất thỏa thuận phải tuân “theo quy định của pháp luật”. Do đó, nhiều cơ quan và chuyên gia cho rằng, việc thực hiện lãi suất cho vay theo thỏa thuận chỉ căn cứ vào quy định tại khoản 2 Điều 91 của Luật các Tổ chức tín dụng là chưa đủ, tức là lãi suất cho vay theo thỏa thuận phải được quy định trong văn bản quy phạm pháp luật khác như dẫn chiếu tại khoản 2 Điều 91 Luật các Tổ chức tín dụng năm 2010.
Hiện nay, các văn bản quy phạm pháp luật dưới hình thức bộ luật và luật (trừ Luật các Tổ chức tín dụng) đều không quy định cơ chế lãi suất cho vay theo thỏa thuận giữa tổ chức tín dụng và khách hàng. Các văn bản hướng dẫn của Ngân hàng Nhà nước (văn bản dưới luật) quy định tổ chức tín dụng và khách hàng có quyền thỏa thuận về lãi suất cho vay. Kể từ ngày 15/03/2017, Thông tư số 39/2016/TT-NHNN ngày 30/12/2016 của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước (sau đây gọi tắt là “Thông tư số 39/2016/TT-NHNN”) có hiệu lực, trong đó quy định rõ tổ chức tín dụng và khách hàng được thỏa thuận về lãi suất cho vay theo cung cầu vốn thị trường, nhu cầu vay vốn và mức độ tín nhiệm của khách hàng, trừ trường hợp Ngân hàng Nhà nước có quy định về lãi suất cho vay tối đa đáp ứng một số nhu cầu vốn sau:
“a) Phục vụ lĩnh vực phát triển nông nghiệp, nông thôn theo quy định của Chính phủ về chính sách tín dụng phục vụ phát triển nông nghiệp, nông thôn;
b) Thực hiện phương án kinh doanh hàng xuất khẩu theo quy định tại Luật thương mại và các văn bản hướng dẫn Luật thương mại;
c) Phục vụ kinh doanh của doanh nghiệp nhỏ và vừa theo quy định của Chính phủ về trợ giúp phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa;
d) Phát triển ngành công nghiệp hỗ trợ theo quy định của Chính phủ về phát triển công nghiệp hỗ trợ;
đ) Phục vụ kinh doanh của doanh nghiệp ứng dụng công nghệ cao theo quy định tại Luật công nghệ cao và các văn bản hướng dẫn Luật công nghệ cao.”
Như vậy, quy định về trần lãi suất chỉ áp dụng đối với trường hợp cho vay ngắn hạn bằng đồng Việt Nam thuộc các lĩnh vực ưu tiên quy định tại Thông tư số 39/2016/TT-NHNN1. Lãi suất cho vay trong các lĩnh vực không ưu tiên do các bên thỏa thuận dựa trên quy định của Thông tư số 39/2016/TT-NHNN (không phải là văn bản quy phạm pháp luật dưới hình thức “luật” như yêu cầu của Bộ luật Dân sự năm 2015).
1.2. Lãi suất áp dụng đối với dư nợ gốc và dư nợ lãi quá hạn 
Về lãi suất áp dụng đối với dư nợ vay quá hạn: Trên cơ sở quy định tại Điều 466 của Bộ luật Dân sự năm 2015 “Lãi trên nợ gốc quá hạn chưa trả bằng 150% lãi suất vay theo hợp đồng tương ứng với thời gian chậm trả, trừ trường hợp có thỏa thuận khác”. Tại Điều 13 Thông tư số 39/2016/TT-NHNN quy định trường hợp khoản nợ vay bị chuyển nợ quá hạn thì khách hàng phải trả lãi trên dư nợ gốc bị quá hạn tương ứng với thời gian chậm trả, lãi suất áp dụng không vượt quá 150% lãi suất cho vay trong hạn tại thời điểm chuyển nợ quá hạn. Việc văn bản quy phạm pháp luật chỉ quy định lãi suất trần không quá 150% lãi suất cho vay trong hạn mà không quy định lãi suất sàn áp dụng đối với dư nợ gốc bị quá hạn là chưa hợp lý, chưa bảo đảm tính răn đe và biện pháp chế tài đối với hành vi vi phạm hợp đồng cho vay của khách hàng (ví dụ các bên có thể áp dụng lãi suất đối với dư nợ gốc bị quá hạn dưới mức lãi suất cho vay trong hạn).
Trường hợp có tranh chấp phát sinh từ hợp đồng cho vay và vụ việc được giải quyết tại Tòa án. Hiện nay, các bản án, quyết định của Tòa án đều tuyên bố tiền lãi phải trả tính từ ngày tuyên bản án sơ thẩm cho đến khi thi hành án xong, khoảng thời gian từ ngày xét xử sơ thẩm đến khi xét xử phúc thẩm thì không tính lãi vì tính chất phúc thẩm là xét xử lại vụ án mà bản án, quyết định của Tòa án cấp sơ thẩm chưa có hiệu lực bị kháng cáo, kháng nghị2. Riêng đối với tranh chấp hợp đồng cho vay ký kết giữa khách hàng với tổ chức tín dụng thì Tòa án thường tuyên khách hàng vay và/hoặc bên thứ ba phải thanh toán tiền lãi vay theo lãi suất nợ quá hạn kể từ khi phát sinh nợ quá hạn cho đến khi thi hành án xong (trả hết nợ gốc) nhằm bảo đảm quyền lợi cho các tổ chức tín dụng theo khoản 3 phần I Thông tư liên tịch số 01/TTLT ngày 19 tháng 6 năm 1997 của Tòa án Nhân dân Tối cao, Viện Kiểm sát Nhân dân Tối cao, Bộ Tư pháp, Bộ Tài chính (sau đây gọi tắt là “Thông tư liên tịch số 01”) quy định “phải thanh toán số tiền thực tế đã vay, gửi cùng với khoản tiền lãi, kể từ ngày khi giao dịch cho đến khi thi hành án xong, theo mức lãi suất tương ứng do Ngân hàng Nhà nước quy định”. Tuy nhiên, Thông tư liên tịch 01 mặc dù còn hiệu lực ở thời điểm hiện nay nhưng được ban hành trên cơ sở quy định của Bộ luật Dân sự năm 1995, nên một số nội dung đã bất cập, không phù hợp với thực tế và các đạo luật khác có liên quan được ban hành/thông qua gần đây. Về thời điểm, thời gian tính lãi và áp dụng lãi suất quá hạn được quy định tại Thông tư liên tịch số 01 cũng không còn phù hợp, cụ thể tại khoản 1 phần III Thông tư liên tịch số 01 quy định: “Để bảo đảm quyền lợi cho bên được thi hành án, hạn chế việc bên phải thi hành án cố tình dây dưa, không tự nguyện thi hành án, cùng với việc quyết định khoản tiền mà bên có nghĩa vụ về tài sản phải thanh toán cho bên được thi hành án, khoản tiền phải nộp để đưa vào ngân sách Nhà nước (tiền tịch thu, tiền truy thu thuế, tiền truy thu do thu lợi bất chính, tiền phạt), tòa án phải quyết định rõ trong bản án hoặc quyết định là kể từ ngày bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất nợ quá hạn do Ngân hàng Nhà nước quy định tương ứng với thời gian chưa thi hành án theo quy định tại khoản 2 Điều 313 Bộ luật dân sự, trừ trường hợp được hướng dẫn tại khoản 3 phần 1 Thông tư này về các khoản vay của tổ chức Ngân hàng, tín dụng. Khi tính lãi chỉ tính lãi số tiền còn phải thi hành án, mà không tính lãi của số tiền lãi chưa trả trong quá trình thi hành án”. Việc tính lãi suất quá hạn theo quy định tại khoản 2 Điều 313 Bộ luật Dân sự năm 1995 hiện nay là không phù hợp với quy định tại khoản 2 Điều 357 và khoản 5 Điều 466 Bộ luật Dân sự năm 2015, cụ thể “2. Lãi suất phát sinh do chậm trả tiền được xác định theo thỏa thuận của các bên nhưng không được vượt quá mức lãi suất được quy định tại khoản 1 Điều 468 của Bộ luật này; nếu không có thỏa thuận thì thực hiện theo quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật này” (Điều 357); “5. Trường hợp vay có lãi mà khi đến hạn bên vay không trả hoặc trả không đầy đủ thì bên vay phải trả lãi như sau: a) Lãi trên nợ gốc theo lãi suất thỏa thuận trong hợp đồng tương ứng với thời hạn vay mà đến hạn chưa trả; trường hợp chậm trả thì còn phải trả lãi theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật này” (Điều 466).
 
2. Phạt vi phạm trong hợp đồng cho vay
Phạt vi phạm hợp đồng là hình thức chế tài do vi phạm hợp đồng, theo đó bên vi phạm hợp đồng phải trả cho bên bị vi phạm một khoản tiền nhất định do pháp luật quy định hoặc do các bên thỏa thuận trên cơ sở quy định của pháp luật. Chế tài phạt vi phạm hợp đồng có mục đích chủ yếu là trừng phạt, tác động vào ý thức của các chủ thể tham gia hợp đồng nhằm giáo dục ý thức tôn trọng tuân thủ hợp đồng, phòng ngừa vi phạm hợp đồng. Với mục đích như vậy, phạt vi phạm hợp đồng được áp dụng một cách phổ biến đối với các vi phạm hợp đồng.
Khác với phạt vi phạm hợp đồng, bồi thường thiệt hại là hình thức chế tài được áp dụng nhằm khôi phục, bù đắp những lợi ích vật chất của bên bị vi phạm hợp đồng. Với mục đích này, bồi thường thiệt hại chỉ được áp dụng khi có các căn cứ sau: có hành vi vi phạm hợp đồng; có thiệt hại thực tế xảy ra; hành vi vi phạm hợp đồng là nguyên nhân trực tiếp gây ra thiệt hại; có lỗi của bên vi phạm (không thuộc các trường hợp được miễn trách nhiệm theo quy định của pháp luật).  
Tại Điều 418 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định phạt vi phạm là sự thỏa thuận giữa các bên trong hợp đồng, theo đó bên vi phạm nghĩa vụ phải nộp một khoản tiền cho bên bị vi phạm. Mức phạt vi phạm do các bên thỏa thuận, trừ trường hợp luật liên quan có quy định khác. Các bên có thể thỏa thuận về việc bên vi phạm nghĩa vụ chỉ phải chịu phạt vi phạm mà không phải bồi thường thiệt hại hoặc vừa phải chịu phạt vi phạm và vừa phải bồi thường thiệt hại. Trường hợp các bên có thỏa thuận về phạt vi phạm nhưng không thỏa thuận về việc vừa phải chịu phạt vi phạm và vừa phải bồi thường thiệt hại thì bên vi phạm nghĩa vụ chỉ phải chịu phạt vi phạm.
Tại Điều 25 Thông tư số 39/2016/TT-NHNN cũng có quy định tương tự như quy định tại Điều 418 Bộ luật Dân sự năm 2015. Phạt vi phạm và bồi thường thiệt hại là nội dung bắt buộc phải có trong hợp đồng cho vay theo quy định tại khoản 1 Điều 23 Thông tư số 39/2016/TT-NHNN. Do bồi thường thiệt hại chỉ được áp dụng khi có thiệt hại thực tế xảy ra và phải có các căn cứ xác định nêu trên, nên việc các bên thỏa thuận nguyên tắc bồi thường thiệt hại trong hợp đồng cho vay hầu như không có vướng mắc phát sinh trong thời gian qua. Từ khi Thông tư số 39/2016/TT-NHNN có hiệu lực đến nay, số lượng vụ việc tranh chấp phát sinh liên quan đến hợp đồng cho vay có thỏa thuận phạt vi phạm và phải giải quyết tại Tòa án chưa nhiều, nên chưa có đủ thông tin và số liệu để tổng kết, đánh giá. Tuy nhiên, đối với nội dung phạt vi phạm chậm trả lãi được các bên thỏa thuận trong các hợp đồng cho vay được xác lập trước khi Bộ luật Dân sự năm 2015 có hiệu lực (01/01/2017) và có phát sinh tranh chấp được giải quyết tại Tòa án, một số Tòa án đã không công nhận mức phạt và lãi phạt do các bên thỏa thuận trong hợp đồng cho vay cho dù nội dung thỏa thuận đó đều căn cứ trên các quy định hướng dẫn của Ngân hàng Nhà nước. Trước đây, tại Công văn số 242/CV-NHNN1 ngày 25/03/1999 của Ngân hàng Nhà nước hướng dẫn các ngân hàng thương mại và khách hàng được thỏa thuận trong hợp đồng cho vay việc phạt vi phạm thời hạn trả lãi tiền vay đối với khách hàng. Mức phạt vi phạm thời hạn trả lãi tiền vay tính theo tỷ lệ phần trăm (%) của số lãi tiền vay vi phạm thời hạn trả nhưng mức phạt cao nhất không quá 5%. Hiện nay, tại điểm b khoản 4 Điều 13 Thông tư số 39/2016/TT-NHNN quy định “Trường hợp khách hàng không trả đúng hạn tiền lãi theo quy định tại điểm a khoản này, thì phải trả lãi chậm trả theo mức lãi suất do tổ chức tín dụng và khách hàng thỏa thuận nhưng không vượt quá 10%/năm tính trên số dư lãi chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả”. Về bản chất, các quy định trước đây và hiện nay, Ngân hàng Nhà nước đều cho phép các tổ chức tín dụng và khách hàng thỏa thuận về mức phạt vi phạm chậm trả lãi tiền vay nhưng khống chế mức trần (5% hoặc 10%) số lãi tiền vay vi phạm thời hạn trả (không trả đúng hạn).
Trong thời gian qua, hệ thống Tòa án chưa nhận thức thống nhất về các quy định của pháp luật về lãi suất, phạt vi phạm hợp đồng tín dụng dẫn đến tình trạng xét xử cùng loại tranh chấp hợp đồng tín dụng, trong đó các bên thỏa thuận về lãi suất (bao gồm lãi suất trong hạn và lãi suất nợ quá hạn), thỏa thuận phạt vi phạm nhưng có Tòa án xử chấp nhận tính lãi suất quá hạn và phạt vi phạm; có Tòa án chỉ chấp nhận tính lãi suất quá hạn mà không chấp nhận phạt vi phạm vì cho rằng tính lãi suất quá hạn đồng thời phạt vi phạm là “lãi chồng lãi”, “phạt chồng phạt”3. Ngay tại khoản 3 Điều 7 dự thảo lần 2 Nghị quyết của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao (năm 2018) hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật về lãi suất, phạt vi phạm cũng không chấp nhận ngân hàng được yêu cầu bên vi phạm vừa phải trả lãi theo lãi suất quá hạn, vừa phải thanh toán tiền phạt vi phạm cho dù các bên có thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng. Đến cuối tháng 4/2018, dự thảo Nghị quyết này vẫn chưa được Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao thông qua và ký ban hành.     
Thực tế, trong năm 2017, khi tham gia tố tụng một vụ án tranh chấp hợp đồng cho vay tại Tòa án nhân dân tỉnh Khánh Hòa, chúng tôi được thẩm phán phụ trách vụ án cho biết Tòa án nhân dân tỉnh Khánh Hòa không chấp nhận mức phạt và số lãi phạt ghi trong hợp đồng cho vay ký kết giữa ngân hàng và khách hàng. Chúng tôi hỏi cơ sở pháp lý của việc Tòa án không công nhận nội dung phạt vi phạm do các bên thỏa thuận trong hợp đồng cho vay thì thẩm phán đó cho biết là văn bản hướng dẫn nội bộ của ngành Tòa án, không thể cung cấp cho ngân hàng. Trong năm 2016, Tòa án nhân dân
TP. Hà Nội khi giải quyết tranh chấp hợp đồng tín dụng giữa ngân hàng và khách hàng tuyên bác bỏ khoản lãi phạt chậm trả vì phạt chậm trả được coi là lãi trên lãi và pháp luật không cho phép điều này4. Trong năm 2014, Viện kiểm sát nhân dân TP. Đà Nẵng cũng có ý kiến không chấp nhận lãi phạt trong hợp đồng tín dụng vì lãi phạt về bản chất là lãi chồng lãi, lãi mẹ đẻ lãi con, Bộ luật Dân sự năm 2005 và Luật các Tổ chức tín dụng năm 2010 đều không quy định về vấn đề này5. Tại điểm b khoản 4 Điều 13 Thông tư số 39/2016/TT-NHNN quy định mức phạt chậm trả lãi được xác định theo mức lãi suất tối đa không quá 10%/năm. Cơ sở xác định mức phạt lãi chậm trả nợ dựa trên quy định tại điểm a khoản 5 Điều 466 và khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015. Mức lãi suất 10%/năm (một năm là 365 ngày) tức là bằng 50% mức lãi suất giới hạn quy định tại khoản 1 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015 (lãi suất trần). Số tiền phạt do chậm trả lãi được xác định bằng (mức lãi suất chậm trả lãi (tối đa 10%) nhân với (x) số tiền lãi chậm trả nhân với thời gian chậm trả lãi): 365 ngày. Ngoài phạt vi phạm do bên vay không trả lãi đúng hạn, Thông tư số 39/2016/TT-NHNN không hướng dẫn phạt vi phạm đối với nghĩa vụ khác của bên vay mà giao tổ chức tín dụng tự thỏa thuận với bên vay theo quy định của pháp luật.
Theo Thông tư số 39/2016/TT-NHNN thì chủ thể tham gia ký kết hợp đồng cho vay là tổ chức tín dụng (một bên luôn là pháp nhân, có mục đích kinh doanh) và cá nhân, pháp nhân vay vốn (khách hàng vay vốn có thể vì mục đích sản xuất kinh doanh hoặc vì sinh hoạt, tiêu dùng). Do đó, hợp đồng cho vay là một hình thức cụ thể của hợp đồng kinh doanh, thương mại và chịu sự điều chỉnh của Luật Thương mại. Hiện nay, chỉ có Luật Thương mại mới quy định cụ thể mức phạt vi phạm đối với hợp đồng kinh doanh, thương mại. Tại Điều 301 Luật Thương mại năm 2005  quy định “Mức phạt đối với vi phạm nghĩa vụ hợp đồng hoặc tổng mức phạt đối với nhiều vi phạm do các bên thoả thuận trong hợp đồng, nhưng không quá 8% giá trị phần nghĩa vụ hợp đồng bị vi phạm...”. Vì vậy, số tiền phạt được xác định bằng mức phạt (tối đa 8%) nhân với (x) giá trị nghĩa vụ hợp đồng bị vi phạm.  
Như vậy, ngoài quan điểm không đồng tình của một số Tòa án, Viện kiểm sát về phạt vi phạm chậm lãi trả lãi do các bên thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng được xác lập trước ngày 01/01/2017 trên cơ sở văn bản hướng dẫn của Ngân hàng Nhà nước thì hiện nay quy định về phạt vi phạm chậm trả lãi tại điểm b khoản 4 Điều 13 Thông tư số 39/2016/TT-NHNN chưa thống nhất với quy định về phạt vi phạm tại Điều 301 Luật Thương mại năm 2005 áp dụng đối với các hợp đồng kinh doanh - thương mại, trong đó có hợp đồng cho vay.
 
3. Một số kiến nghị
Trên cơ sở quy định của pháp luật thực định, thực tế áp dụng pháp luật về cho vay, người viết có một số kiến nghị như sau:
(i) Văn bản quy định chi tiết cần được soạn thảo và ban hành kịp thời để bảo đảm tính đồng bộ và thực thi của văn bản quy phạm pháp luật, tránh tình trạng văn bản quy phạm pháp luật của cơ quan cấp trên phải chờ văn bản hướng dẫn của cơ quan cấp dưới; quy định về phạt vi phạm cần bảo đảm sự thống nhất giữa văn bản quy phạm pháp luật của cơ quan Nhà nước cấp trên với văn bản quy phạm pháp luật của cơ quan Nhà nước cấp dưới.
(ii) Văn bản quy định chi tiết chỉ nên quy định nội dung được giao và không cần thiết quy định lặp lại nội dung của văn bản được quy định chi tiết như yêu cầu tại khoản 1 Điều 11 Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015. Căn cứ đặc thù và tính chất của quan hệ/giao dịch vay vốn ngân hàng, cần có hướng dẫn phù hợp với điều khoản phạt vi phạm, ngoài nội dung phạt vi phạm do khách hàng không trả nợ gốc, lãi đúng hạn hoặc trả nợ gốc, lãi đúng hạn nhưng không đầy đủ (ví dụ như khách hàng không cung cấp cho ngân hàng báo cáo tài chính trung thực, đúng hạn theo thỏa thuận hoặc không thông báo cho ngân hàng việc thay đổi cơ cấu chủ sở hữu, thành viên góp vốn trong doanh nghiệp vay vốn…).
(iii) Văn bản hướng dẫn nội bộ của Tòa án nhân dân tối cao làm căn cứ pháp lý giải quyết các tranh chấp hợp đồng cho vay nói riêng và hợp đồng kinh doanh, thương mại, dân sự nói chung cần được công bố công khai để các tổ chức, cá nhân biết, thực hiện và làm cơ sở cho các bộ, cơ quan ngang bộ tham khảo trong quá trình soạn thảo, ban hành văn bản quy phạm pháp luật thuộc thẩm quyền của mình nhằm bảo đảm tính thống nhất của hệ thống văn bản quy phạm pháp luật tại Việt Nam.   
(iv) Cần quy định lãi suất áp dụng đối với dư nợ gốc vay bị quá hạn lớn hơn lãi suất cho vay trong hạn nhưng không vượt quá 150% lãi suất cho vay trong hạn nhằm bảo đảm tính răn đe, ngăn chặn hành vi vi phạm hợp đồng cho vay của khách hàng về việc không trả nợ vay đúng hạn và đầy đủ.
(v) Cần có văn bản quy định việc tính lãi liên tục trong suốt quá trình giải quyết tranh chấp cho đến khi thi hành án xong bản án, quyết định của Tòa án đối với hợp đồng tín dụng/hợp đồng cho vay giữa tổ chức tín dụng với khách hàng trong trường hợp có tranh chấp hợp đồng tín dụng/hợp đồng cho vay và vụ việc phải giải quyết tại Tòa án.
(vi) Các cơ quan có thẩm quyền cần xây dựng, ban hành văn bản quy phạm pháp luật thay thế Thông tư liên tịch số 01/TTLT ngày 19 tháng 6 năm 1997 của Tòa án Nhân dân Tối cao, Viện Kiểm sát Nhân dân Tối cao, Bộ Tư pháp, Bộ Tài chính nhằm quy định rõ lãi suất do chậm thi hành án cho phù hợp với quy định của Bộ luật Dân sự năm 2015, Luật các Tổ chức tín dụng năm 2010 và các văn bản hướng dẫn của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước.
 
1 Phạm Thị Hồng Đào “Quy định về lãi suất, phạt vi phạm hợp đồng vay tài sản theo BLDS năm 2015 và những vướng mắc”, www.moj.gov.vn, ngày 04/04/2018.
2 Tống Anh Hào - Tòa án Nhân dân Tối cao “Thực tiễn áp dụng pháp luật về tiền lãi trong xét xử”, Tài liệu Hội thảo về một số quy định về lãi suất và bảo đảm thực hiện nghĩa vụ của BLDS năm 2015 đối với thực tiễn hoạt động sản xuất, kinh doanh, TP. Hồ Chí Minh ngày 23/12/2016.   
3 Ngọc Trâm “Vướng mắc về lãi suất, phạt vi phạm hợp đồng tín dụng”, Tạp chí Tòa án điện tử tháng 12/2017, htpp://tapchitoaan.vn.
4 Bùi Trang - Đỗ Mến “Phạt lãi trên lãi: ngân hàng chưa hiểu đúng ?”, Đầu tư Chứng khoán, ngày 18/01/2016.
5 Thái Văn Đoàn - Ngô Trường Giang - Phòng 12 Viện kiểm sát nhân dân TP. Đà Nẵng “Sớm tháo gỡ những vướng mắc phát sinh từ các vụ án tranh chấp hợp đồng tín dụng có quy định phạt chậm trả”, hpp://vksdanang.gov.vn, ngày 30/7/2014.
 
 
(Tạp chí Ngân hàng số 10, tháng 5/2018)
Bình luận Ý kiến của bạn sẽ được biên tập trước khi đăng. Xin vui lòng gõ tiếng Việt có dấu