Thứ Hai, ngày 23 tháng 11 năm 2020

Tín dụng chính sách xã hội giúp giảm nghèo bền vững

Ngày đăng:11:15 08/10/2020
Lượt xem: 292
Cỡ chữ
Thực chứng cho thấy cùng với các chính sách tổng thể, chính sách tín dụng ưu đãi do Ngân hàng Chính sách xã hội (NHCSXH) thực hiện gần 20 năm qua là một cấu phần quan trọng trong Chương trình mục tiêu quốc gia về giảm nghèo bền vững, góp phần cải thiện và từng bước nâng cao điều kiện sống, tạo sự chuyển biến mạnh mẽ, toàn diện ở khu vực nông thôn, các vùng nghèo, vùng đồng bào dân tộc thiểu số (DTTS).


Tín dụng chính sách là công cụ quan trọng thực hiện mục tiêu xóa đói, giảm nghèo bền vững
 
Công cụ trực tiếp và hữu hiệu giúp giảm nghèo bền vững 
 
Là tỉnh miền núi biên giới với 4/12 huyện nghèo, 112/204 xã và 1.708/3.230 bản có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn, dân số trên 1,2 triệu người với 12 dân tộc anh em cùng sinh sống, Sơn La vẫn còn chưa hết khó khăn. Song, so với cách đây chỉ 5 năm về trước đã là một bước tiến vượt bậc khi ngày ấy nhiều gia đình cơm không đủ ăn, áo không đủ ấm, tỷ lệ hộ nghèo năm 2016 là 31,91%, hộ cận nghèo là 10,92%. Tuy nhiên, chỉ qua 4 năm, đến cuối năm 2019, tỷ lệ hộ nghèo đã giảm xuống còn 21,62% (giảm 10,29%), hộ cận nghèo là 10,93% (tăng 0,01%). 
 
Nguyên nhân được các lãnh đạo tỉnh chỉ ra một phần là do Sơn La quan tâm đến việc xây dựng cơ sở hạ tầng. Quan trọng hơn, những con đường dần được trải nhựa quanh co uốn lượn men theo triền núi đã dẫn dòng vốn tín dụng chính sách xã hội từ NHCSXH chi nhánh tỉnh Sơn La hòa cùng sự thay đổi trong nhận thức, ý chí vượt khó làm giàu, chuyển đổi phương thức sản xuất hàng hóa của người dân từ tự cung tự cấp sang kinh tế hàng hóa. Nhiều địa phương, người dân ngày càng biết dựa vào nguồn vốn tín dụng ưu đãi để phát triển sản xuất hàng hóa, nhằm xóa đói, giảm nghèo nhanh và bền vững. Báo cáo của tỉnh Sơn La cho biết, từ năm 2014 đến 30/6/2020, NHCSXH chi nhánh tỉnh đã hỗ trợ trên 218 nghìn lượt hộ nghèo và các đối tượng chính sách được vay vốn, trên 45 nghìn hộ vượt qua ngưỡng nghèo, góp phần trang trải chi phí học tập cho trên 1 nghìn con em đi học tại các trường, thu hút và tạo việc làm thường xuyên cho trên 18 nghìn lao động, vốn vay hỗ trợ xây dựng trên 4.500 căn nhà cho hộ nghèo, 15.600 lượt hộ mới thoát nghèo, cận nghèo được vay vốn thêm 01 chu kỳ sản xuất kinh doanh… 
 
Những tác động từ chính sách tín dụng sẽ còn thúc đẩy tốc độ giảm nghèo của Sơn La trong thời gian tới nhanh hơn khi tổng dư nợ các Chương trình tín dụng chính sách xã hội tại tỉnh tính đến 30/6/2020 đạt 4.586 tỷ đồng, tăng 2.302 tỷ đồng so với năm 2014; với trên 220 nghìn lượt khách hàng được vay vốn (trong đó, trên 93 nghìn lượt hộ nghèo vay vốn). Dự kiến đến cuối năm 2020, toàn tỉnh phấn đấu giảm tỷ lệ hộ nghèo khoảng gần 3%; hộ cận nghèo giảm khoảng 0,05%. Các mô hình sản xuất mới ở Sơn La nhờ dòng vốn tín dụng chính sách giờ không chỉ bó hẹp trong vài hộ đơn lẻ mà lan tỏa và hình thành nên vùng sản xuất chuyên canh, mang lại giá trị hàng hóa kinh tế cao. Việc cho vay ưu đãi hộ nghèo và các đối tượng chính sách khác còn là động lực quan trọng trong việc giữ đất, giữ biên cương, đặc biệt ở các vùng đồng bào DTTS, vùng đặc biệt khó khăn, vùng sâu, vùng xa, nơi biên giới Tổ quốc…
 
Hiệu quả tín dụng chính sách xã hội không chỉ riêng có ở Sơn La mà được triển khai trên diện rộng toàn quốc càng gia tăng thêm hiệu ứng khi NHCSXH luôn theo sát diễn biến hộ vay để có chính sách trợ lực tức thời hỗ trợ người nghèo và đối tượng chính sách vượt qua những rủi ro bất khả kháng. 
 
Những tháng đầu năm 2020, trước diễn biến phức tạp của thời tiết, nhất là tình trạng hạn hán và xâm nhập mặn tại vùng Đồng bằng sông Cửu Long, NHCSXH đã kịp thời triển khai chính sách hỗ trợ cho người dân bị thiệt hại tại 09 tỉnh (Tiền Giang, Kiên Giang, Bạc Liêu, Sóc Trăng, Trà Vinh, Hậu Giang, Bến Tre, Long An, Cà Mau). 
 
Với diễn biến đại dịch Covid-19 lan rộng, khó lường, tác động tiêu cực đến sự phát triển kinh tế - xã hội trên phạm vi toàn cầu nói chung và Việt Nam nói riêng, NHCSXH đã chủ động rà soát các hộ vay để có những giải pháp hỗ trợ kịp thời nhằm tháo gỡ khó khăn cho khách hàng gồm: xem xét gia hạn nợ, điều chỉnh kỳ hạn trả nợ (không chuyển nhóm nợ), cho vay bổ sung, cho vay mới khôi phục sản xuất kinh doanh; báo cáo Hội đồng quản trị trình Thủ tướng Chính phủ xem xét giảm lãi cho hộ nghèo và các đối tượng chính sách; tạm dừng các phiên giao dịch xã và triển khai các biện pháp đảm bảo an toàn vệ sinh phòng dịch cho khách hàng và cán bộ ngân hàng theo khuyến cáo của cơ quan y tế, chính quyền địa phương và các văn bản chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ. Tính đến 14/9/2020, NHCSXH có trên 4 triệu khách hàng bị ảnh hưởng bởi dịch Covid-19 với dư nợ 138.314 tỷ đồng. Trong đó, NHCSXH đã thực hiện hỗ trợ khách hàng; Gia hạn nợ (không chuyển nhóm nợ): 162.268 khách hàng với 4.068 tỷ đồng; Điều chỉnh kỳ hạn nợ (không chuyển nhóm nợ): 75.209 khách hàng với 1.568 tỷ đồng; Cho vay bổ sung: 92.761 khách hàng với 2.303 tỷ đồng; Cho vay mới: 1.395.765 khách hàng với 52.799 tỷ đồng.
 
Đặc biệt, hoạt động tín dụng thông suốt trong giai đoạn dịch bệnh Covid-19 đã góp phần giúp người nghèo và đối tượng chính sách duy trì và mở rộng sản xuất, nâng cao thu nhập và chất lượng sống. 
 
Nhìn lại 22 chương trình tín dụng chính sách xã hội hiện có lại càng thấy cái hữu ý trong thiết kế chính sách theo chuỗi để phục vụ người nghèo và các đối tượng chính sách khác theo tiến trình phát triển của họ, với nguyên tắc ưu tiên hộ nghèo rồi đến hộ cận nghèo, hộ mới thoát nghèo, đáp ứng nhu cầu cấp thiết phát triển kinh tế của người dân đã tạo thành một hệ thống chính sách đồng bộ, bao phủ các nhóm đối tượng thụ hưởng, hỗ trợ đa chiều cho người dân không chỉ giảm nghèo mà còn thoát nghèo bền vững. Cũng bởi, các chương trình tín dụng đi sâu vào các nhu cầu thiết yếu, nên chỉ riêng giai đoạn 2014 - 2020, đã có hơn 12 triệu lượt hộ nghèo và các đối tượng chính sách khác được tiếp cận vốn với doanh số cho vay đạt 336.944 tỷ đồng. 
 
Vốn tín dụng chính sách đã được đầu tư đến 100% xã, phường, thị trấn trên cả nước; trong đó, tập trung ưu tiên cho vay các xã vùng đồng bào DTTS, vùng đặc biệt khó khăn, vùng sâu, vùng xa, biên giới, xã xây dựng nông thôn mới..., góp phần giúp hơn 2,1 triệu hộ vượt qua ngưỡng nghèo; thu hút, tạo việc làm cho hơn 1,3 triệu lao động; giúp hơn 24 nghìn lao động thuộc gia đình chính sách được vay vốn đi lao động có thời hạn ở nước ngoài; gần 346 nghìn học sinh, sinh viên có hoàn cảnh khó khăn được vay vốn học tập; xây dựng hơn 7,3 triệu công trình nước sạch và vệ sinh môi trường ở nông thôn, gần 142 nghìn căn nhà cho hộ nghèo và các hộ gia đình chính sách... 
 
“Với một nước còn đang phát triển và ở mức thu nhập trung bình thấp, những con số nói trên đã thể hiện sự hết sức cố gắng là chăm lo cho người nghèo và các đối tượng chính sách xã hội của Đảng, Nhà nước mà không phải nước nào trên thế giới cũng thực hiện được, kể cả những nước có trình độ phát triển cũng như có mức thu nhập cao hơn nhiều so với đất nước chúng ta”, 
Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Trung ương Đảng, Trưởng Ban Kinh tế Trung ương Nguyễn Văn Bình, cho biết.
 
Tín dụng chính sách đã và đang tiếp tục hỗ trợ các địa phương trong cả nước thực hiện công cuộc xóa đói, giảm nghèo. Tính đến nay, có trên  6,5 triệu hộ nghèo, hộ cận nghèo và các đối tượng chính sách khác còn dư nợ tín dụng chính sách với tổng dư nợ đạt trên 221 nghìn tỷ đồng. Nợ quá hạn và nợ khoanh chỉ chiếm 0,70%/tổng dư nợ cho thấy dòng vốn ngày càng được người dân phát huy và sử dụng hiệu quả nhằm phát triển kinh tế và nâng cao chất lượng sống.
 


Nhiều người nghèo vay vốn ưu đãi từ NHCSXH phát triển sản xuất kinh doanh 
đã vươn lên thoát nghèo
 
Không để ai bị bỏ lại phía sau vì thiếu vốn
 
Tuy nhiên, trong bối cảnh Việt Nam vươn lên quốc gia có mức thu nhập trung bình thế giới khiến các nguồn vốn hỗ trợ từ quốc tế đối với người nghèo và đối tượng yếu thế giảm; các hiệp ước thương mại ngày càng nhiều mở ra cơ hội cho Việt Nam hội nhập sâu vào kinh tế quốc tế, song, cũng tạo ra những thách thức và áp lực trong việc đảm bảo an sinh xã hội khi nguy cơ chênh lệch mức sống ngày càng lớn, nếu không có những chính sách hỗ trợ kịp thời, đúng và đủ, khoảng cách giàu nghèo sẽ ngày càng doãng rộng, người nghèo sẽ ngày càng tụt lại phía sau. Chưa kể nguy cơ tái nghèo cao, nhất là vùng lõi nghèo thuộc Tây Bắc, Tây Nguyên, Tây Nam Bộ thiên tai, dịch bệnh luôn rình rập, cùng với kiến thức canh tác, nuôi trồng của người dân còn hạn hẹp. 
 
Hoạt động tín dụng chính sách xã hội đã nhận được sự quan tâm, chỉ đạo của Đảng, Nhà nước và triển khai có hiệu quả của các bộ, ngành, các tổ chức chính trị - xã hội và chính quyền các cấp, đặc biệt sau Chỉ thị số 40/CT-TW ngày 22/11/2014 của Ban Bí thư Trung ương Đảng về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với tín dụng chính sách xã hội. Tuy nhiên, quá trình hoạt động còn một số tồn tại, đặc biệt là nguồn lực để thực hiện các chương trình tín dụng chính sách xã hội còn hạn chế so với nhu cầu thực tế của người nghèo và các đối tượng chính sách, nhất là tại một số chương trình tín dụng có nhu cầu lớn như chương trình cho vay giải quyết việc làm, cho vay hộ sản xuất kinh doanh vùng khó khăn,… Bên cạnh đó, một số địa phương dành nguồn lực từ ngân sách để cho vay người nghèo và các đối chính sách khác trên địa bàn còn thấp.
 
Một số chương trình tín dụng chính sách có thời hạn cho vay dài, nhưng chưa cân đối được nguồn lực tương ứng nên gây khó khăn trong việc tập trung nguồn lực để đáp ứng nhu cầu vay vốn của đối tượng thụ hưởng tín dụng chính sách xã hội. Chất lượng tín dụng chính sách chưa đồng đều tại một số vùng, địa phương. Đối tượng thụ hưởng tại một số chương trình tín dụng như cho vay học sinh, sinh viên có hoàn cảnh khó khăn, cho vay phát triển kinh tế - xã hội vùng DTTS và miền núi mới chỉ giới hạn trong phạm vi nhất định, các hộ gia đình có mức sống trung bình chưa được tiếp cận. Tại một số nơi, công tác phối hợp giữa các hoạt động khuyến nông, khuyên lâm, khuyến ngư, hỗ trợ kỹ thuật, chuyển giao công nghệ, tiêu thụ sản phẩm của các tổ chức Nhà nước, các đơn vị sự nghiệp, các doanh nghiệp và các tổ chức chính trị - xã hội với hoạt động tín dụng chính sách chưa thật sự được gắn kết, dẫn đến một bộ phận người nghèo sử dụng vốn vay chưa hiệu quả, chưa thoát nghèo bền vững.
 
Vì vậy, để hoạt động tín dụng chính sách xã hội phát triển theo hướng ổn định, bền vững, bảo đảm thực hiện tốt tín dụng chính sách xã hội và tạo điều kiện hỗ trợ cho hộ nghèo, hộ cận nghèo và các đối tượng chính sách khác vươn lên thoát nghèo bền vững, cần tiếp tục thực hiện tốt Chỉ thị số 40-CT/TW ngày 22/11/2014 của Ban Bí thư Trung ương Đảng về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với tín dụng chính sách xã hội và Quyết định số 401/QĐ-TTg ngày 14/3/2016 của Thủ tướng Chính phủ ban hành Kế hoạch triển khai Chỉ thị số 40-CT/TW. Trọng tâm là nâng cao vai trò, trách nhiệm và hiệu quả hoạt động của cấp ủy, chính quyền địa phương các cấp, các tổ chức chính trị - xã hội trong việc thực hiện tín dụng chính sách xã hội; tăng cường bổ sung nguồn vốn địa phương để ủy thác cho vay đối với người nghèo và các đối tượng chính sách khác trên địa bàn.
 
Bên cạnh đó, cần tiếp tục thực hiện tốt phương thức quản lý vốn tín dụng chính sách xã hội đặc thù và hiệu quả, phù hợp với điều kiện thực tiễn và cấu trúc hệ thống chính trị của Việt Nam. Tập trung chỉ đạo thực hiện đồng bộ các giải pháp củng cố và nâng cao chất lượng hoạt động tín dụng chính sách xã hội. Trong đó, đặc biệt coi trọng chất lượng tín dụng, công tác ủy thác của các tổ chức chính trị - xã hội nhận ủy thác, chất lượng hoạt động của các tổ tiết kiệm và vay vốn (TK&VV), hoạt động giao dịch tại xã.
 
Việc nâng cao chất lượng và hiệu quả nguồn nhân lực để thực hiện tín dụng chính sách xã hội cũng cần được chú trọng. Trong đó, cần tăng cường công tác đào tạo, tập huấn nhằm nâng cao trình độ, năng lực đối với đội ngũ cán bộ của NHCSXH, các tổ chức chính trị - xã hội nhận ủy thác và Ban quản lý tổ TK&VV. Nâng cao nhận thức của người dân trong việc sử dụng nguồn vốn tín dụng chính sách xã hội đầu tư có hiệu quả và trách nhiệm trong việc hoàn trả vốn vay; phối hợp hiệu quả giữa các hoạt động khuyến công, khuyến nông, khuyến lâm, khuyến ngư, hỗ trợ kỹ thuật, chuyển giao công nghệ, tiêu thụ sản phẩm của các tổ chức Nhà nước, các đơn vị sự nghiệp, các doanh nghiệp và các tổ chức chính trị - xã hội với hoạt động tín dụng chính sách xã hội.
 
Quan trọng hơn, cần cân đối, bố trí đủ nguồn lực để thực hiện các chương trình tín dụng chính sách. Trong đó, khi xây dựng, ban hành cơ chế, chính sách có liên quan đến tín dụng chính sách xã hội phải đồng thời tính toán bố trí đủ nguồn lực để kịp thời triển khai thực hiện, đảm bảo tính hiệu lực và hiệu quả của chương trình. 
 
Riêng đối với vùng DTTS và miền núi, vùng có điều kiện đặc biệt khó khăn, Quốc hội cũng cần xem xét bố trí, quy định một nguồn vốn riêng trích từ nguồn ngân sách Trung ương cho Đề án tổng thể đầu tư phát triển kinh tế - xã hội vùng DTTS và miền núi, vùng có điều kiện đặc biệt khó khăn, trong đó có khoản mục dành riêng quy định về nguồn vốn tín dụng chính sách đối với đồng bào DTTS. Đồng thời, Chính phủ cần chỉ đạo các địa phương thuộc khu vực DTTS và miền núi xây dựng dự án đặc thù, phù hợp với điều kiện, đặc điểm của từng địa phương, từng vùng miền, bố trí vốn đầu tư phù hợp đạt hiệu quả thiết thực (đầu tư kết cấu hạ tầng, phát triển sản xuất theo chuỗi giá trị đồng bộ, sản phẩm truyền thống địa phương, nguồn vốn tín dụng, quỹ khởi nghiệp cho thanh niên đồng bào DTTS...). 
 
Chính phủ cùng các bộ, ngành cần tiếp tục tạo điều kiện hỗ trợ NHCSXH xây dựng và thực thi Chiến lược phát triển NHCSXH giai đoạn 2021 - 2030, tầm nhìn đến năm 2045 để thực hiện thành công Chiến lược phát triển ngành Ngân hàng Việt Nam theo Quyết định số 986/QĐ-TTg ngày 08/8/2018 của Thủ tướng Chính phủ về việc phê duyệt Chiến lược phát triển ngành Ngân hàng Việt Nam đến năm 2025, định hướng đến năm 2030, đối với NHCSXH: “Tập trung thống nhất chức năng tín dụng chính sách từ các ngân hàng thương mại sang NHCSXH; phát triển NHCSXH thành tổ chức có khả năng tự chủ và phát triển ổn định lâu dài, đồng thời duy trì được vai trò là định chế tài chính công thực hiện các chính sách xã hội của Chính phủ; tập trung vào những lĩnh vực mà các tổ chức tài chính hoạt động theo nguyên tắc thị trường không thể đáp ứng hoặc chỉ đáp ứng được một phần”.

Nhất Thanh

TCNH Số 18/2020
Bình luận Ý kiến của bạn sẽ được biên tập trước khi đăng. Xin vui lòng gõ tiếng Việt có dấu
Tâm lý nhà đầu tư trên thị trường tài chính Việt Nam

Thị trường tiền tệ

Trên thị trường, tâm lý các nhà đầu tư luôn chi phối rất lớn đến mức độ ổn định của thị trường, đặc biệt là đối với thị trường tài chính, sự tác động của yếu tố tâm lý luôn diễn biến rất phức tạp, khiến thị trường tài chính luôn tiềm ẩn yếu tố bất ổn định rất cao