Thứ Hai, ngày 21 tháng 10 năm 2019

Thị trường tiền tệ, tín dụng Việt Nam năm 2018 - triển vọng và thách thức năm 2019

Ngày đăng:02:19 05/09/2019
Lượt xem: 1.385
Cỡ chữ
Trong năm 2018, thị trường tiền tệ tín dụng hoạt động trong bối cảnh chính sách tiền tệ được điều hành theo hướng chủ động, linh hoạt và thận trọng, phối hợp với chính sách tài khóa và các chính sách kinh tế vĩ mô khác nhằm hỗ trợ tăng trưởng kinh tế.


Năm 2018, việc điều hành chính sách tiền tệ thận trọng, kiên định với mục tiêu
ổn định vĩ mô đã giúp thị trường có nhiều điểm sáng

Việc điều hành chính sách tiền tệ thận trọng, kiên định với mục tiêu ổn định vĩ mô đã giúp thị trường có những điểm sáng như tăng trưởng tín dụng chậm lại,  tỷ giá và mặt bằng lãi suất ổn định trong bối cảnh kinh tế thế giới nhiều biến động trái chiều. Tuy nhiên, thị trường đang phải đối mặt với những vấn đề về thu hẹp thanh khoản trong hệ thống ngân hàng, áp lực tăng lãi suất cho vay cao và dư địa thực hiện các công cụ của chính sách tiền tệ đã hẹp hơn so với đầu năm 2018. Bên cạnh đó, thị trường tiền tệ - tín dụng năm 2019 vẫn phải đối mặt với thách thức từ những biến động trên thị trường quốc tế, việc thực hiện theo đuổi đa mục tiêu kinh tế và xử lý các vấn đề bất cập nội tại của hệ thống ngân hàng.    
 
1. Bối cảnh hoạt động của thị trường tiền tệ, tín dụng năm 2018
 
Trong năm 2018, thị trường tài chính hoạt động trong bối cảnh chính sách tiền tệ được điều hành theo hướng chủ động, linh hoạt và thận trọng, phối hợp với chính sách tài khóa và các chính sách kinh tế vĩ mô khác nhằm hỗ trợ tăng trưởng kinh tế (mục tiêu tăng trưởng GDP đạt 6,7%) và kiểm soát lạm phát (mục tiêu tốc độ tăng giá tiêu dùng bình quân khoảng 4%)1. Theo đó, lãi suất, tỷ giá phải được điều hành phù hợp với cân đối vĩ mô, diễn biến lạm phát và thị trường tiền tệ, hướng tới mục tiêu giảm lãi suất cho vay phù hợp với điều kiện kinh tế vĩ mô, ổn định và phát triển thị trường ngoại tệ, tiếp tục tăng dự trữ ngoại hối nhà nước. Đối với tín dụng, mục tiêu là mở rộng tín dụng đi đôi với nâng cao chất lượng tín dụng, tập trung tín dụng cho các lĩnh vực ưu tiên, khu vực sản xuất, kinh doanh, kiểm soát chặt chẽ tín dụng đối với lĩnh vực tiềm ẩn rủi ro. Một số mục tiêu khác là: (i) Tổ chức thực hiện quyết liệt và khẩn trương Nghị quyết của Quốc hội về thí điểm xử lý nợ xấu của các tổ chức tín dụng và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật các tổ chức tín dụng; (ii) Đẩy mạnh triển khai Đề án cơ cấu lại hệ thống tổ chức tín dụng gắn với xử lý nợ xấu đến năm 2020; (iii) Tạo chuyển biến căn bản về quản trị ngân hàng, hiệu quả và an toàn hoạt động; (iv) Tập trung xử lý có hiệu quả các tổ chức tín dụng yếu kém và nợ xấu theo nguyên tắc thị trường, không hỗ trợ trực tiếp từ ngân sách nhà nước; (v) Tăng cường kiểm tra, thanh tra, giám sát; xử lý nghiêm các vi phạm trong hoạt động của các tổ chức tín dụng và thị trường tiền tệ.
 
 Thực hiện Nghị quyết 01/NQ-CP, ngày 10/1/2018, Ngân hàng Nhà nước (NHNN) đã ban hành chỉ thị số 01/CT-NHNN về tổ chức thực hiện chính sách tiền tệ và đảm bảo hoạt động ngân hàng an toàn, hiệu quả năm 2018. Chỉ thị số 01/CT-NHNN cho thấy sự thay đổi về nhận thức trong điều hành chính sách tiền tệ. Chỉ tiêu tăng trưởng tín dụng không phải là chỉ tiêu pháp lệnh bắt buộc mà là chỉ tiêu mang tính chất định hướng. Năm 2018, NHNN định hướng tổng phương tiện thanh toán tăng khoảng 16%, tín dụng tăng khoảng 17%, có điều chỉnh phù hợp với diễn biến, tình hình thực tế. Các chỉ tiêu tiền tệ, tín dụng đã được nhìn nhận là các chỉ tiêu trung gian, phù hợp với diễn biến thực tế và tình hình kinh tế xã hội chứ không phải là chỉ tiêu pháp lệnh. Do đó, chính sách tiền tệ đã theo hướng xác định các mục tiêu cuối cùng, là ổn định giá trị đồng tiền, kiểm soát lạm phát và hỗ trợ tăng trưởng kinh tế hợp lý. Việc điều hành chính sách tài chính, tiền tệ không chỉ cho năm 2018 mà cả tới năm 2020 để tăng cường ổn định kinh tế vĩ mô, gia tăng sự chống chịu của hệ thống ngân hàng trước các biến động về chính sách tiền tệ trên thế giới.
 
2. Diễn biến thị trường năm 2018
 
Điểm khác biệt của thị trường tiền tệ - tín dụng năm 2018 là tăng trưởng tín dụng đã chậm lại sau khoảng thời gian dài liên tục tăng trưởng cao, tỷ giá và lãi suất được duy trì ở mức ổn định dù bối cảnh thị trường nhiều biến động. Cụ thể:
 
Thứ nhất, điểm nhấn nổi bật của thị trường tiền tệ 2018 là tăng trưởng tín dụng chậm lại, hướng tới mục tiêu ổn định kinh tế vĩ mô. Tín dụng năm 2018 ước tăng 14 - 15%, thấp hơn 3 - 4 điểm phần trăm so với năm 2017, và là mức tăng thấp nhất từ 2015 đến nay. Tỷ lệ tín dụng/GDP khoảng 134%. Hệ số chênh lệch tín dụng/GDP tăng 1,7 điểm phần trăm so với cùng kỳ năm 2017, mức tăng thấp nhất kể từ năm 20152. So với mức tăng trưởng tín dụng toàn ngành Ngân hàng đưa ra đầu năm (17%), mức tăng trưởng tín dụng thực hiện thấp hơn 2-3 điểm phần trăm. 
 
Tăng trưởng tín dụng chậm lại là kết quả của việc điều hành tăng trưởng tín dụng thận trọng trong cả năm 2018 của NHNN, giảm tăng trưởng để đảm bảo ổn định thanh khoản, kiểm soát lạm phát và hướng dòng vốn tín dụng vào các mục tiêu bền vững. Mặc dù vào tháng 8/2018, ước tính tăng trưởng tín dụng toàn Ngành đạt 8,18%, đây là mức thấp nhất trong 4 năm, nhưng NHNN đã không xem xét, điều chỉnh tăng chỉ tiêu tăng trưởng tín dụng đối với một số các NHTM trên hệ thống, mà thay vào đó, tiếp tục kiểm soát chặt chẽ tín dụng, ưu tiên phân bổ nguồn vốn ngân hàng vào các lĩnh vực sản xuất kinh doanh, lĩnh vực ưu tiên và hạn chế vào các lĩnh vực tiềm ẩn rủi ro như bất động sản, chứng khoán, BOT và BT giao thông, thể hiện trong Chỉ thị số 04/CT-NHNN về việc tiếp tục triển khai hiệu quả các nhiệm vụ, giải pháp trọng tâm của ngành Ngân hàng trong 6 tháng cuối năm 2018. Việc điều hành này được đánh giá là không ảnh hưởng tới đà tăng trưởng của nền kinh tế, bởi chất lượng tín dụng đã từng bước được nâng cao, cơ cấu tín dụng đã phân bổ tập trung vào các lĩnh vực ưu tiên, đặc biệt là sản xuất nông nghiệp và công nghệ cao. Công tác xử lý nợ xấu cũng được đẩy mạnh,  nợ xấu giảm thấp khiến tăng trưởng tín dụng trở nên thực chất hơn, cũng như giải phóng thêm một lượng vốn lớn vào nền kinh tế. Nhờ đó, mặc dù tín dụng tăng thấp hơn năm trước, song vẫn đủ để hỗ trợ tăng trưởng kinh tế năm 2018 ước đạt 7,08%3 (tốc độ tăng trưởng cao nhất 10 năm gần đây), lạm phát được kiểm soát ổn định với mức lạm phát bình quân cả năm là 3,54%, hoàn thành mục tiêu đề ra của Chính phủ. 
 
Thứ hai, trong bối cảnh thị trường tài chính thế giới nhiều biến động, áp lực mất giá lớn, tỷ giá USD/VND đã được duy trì ổn định trong xu hướng tăng. Đến cuối năm 2018, tỷ giá trung tâm đang ở mức 22.825 VND = 1USD, tăng 1,78% so với cuối năm 2017. Theo đó, mức tỷ giá USD/VND mà thị trường được giao dịch ở trong khoảng 22.818 - 23.510, tỷ giá trên thị trường vẫn đang giao dịch trong ngưỡng cho phép, cụ thể: tỷ giá USD/VND trung bình của NHTM ở mức 23.288, tăng 2,59% so với cuối năm 2017; và tỷ giá USD/VND trên thị trường tự do  ở mức 23.337, tăng 2,6% so với cuối năm 2017.
 
Những tháng đầu năm, tỷ giá ổn định do NHNN đã mua lượng lớn ngoại tệ từ các NHTM4. Những đợt biến động mạnh nhất trong năm (tháng 6-8/2018) đều do những tác động của các yếu tố trên thị trường quốc tế, bắt nguồn từ cuộc đối đầu thương mại giữa Mỹ và Trung Quốc và lộ trình tăng lãi suất dày của Cục dự trữ liên bang Mỹ (Fed). FED đã tăng lãi suất USD 4 lần trong năm 2018 (mức lãi suất tại thời điểm hiện nay là 2,75%). Mặt khác, áp lực tăng đến từ những lo ngại về căng thẳng thương mại giữa Mỹ và Trung Quốc, Canada, Mexico, khiến cầu USD tăng. Đô la Mỹ lên giá trong khi Nhân dân tệ giảm giá khiến cho cầu ngoại tệ trên thị trường Việt Nam tăng đột biến trong những tháng cuối năm. Xét yếu tố cơ bản trong nước, diễn biến lạm phát tăng và tình hình dòng vốn đầu tư gián tiếp vào Việt Nam với nhiều biến động khi nhà đầu nước ngoài liên tiếp bán ròng trên thị trường chứng khoán vào cuối tháng 6/2018 cũng góp phần tạo áp lực tăng tỷ giá.   Trong bối cảnh trên, diễn biến tỷ giá vẫn duy trì được ổn định là do: Cơ chế tỷ giá trung tâm và các công cụ điều tiết thị trường ngoại hối phát huy được hiệu quả hạn chế hành vi đầu cơ, găm giữ ngoại tệ; Nguồn cung ngoại tệ tương đối dồi dào do vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) tăng trưởng khả quan5; Thặng dư thương mại; Chênh lệch lãi suất VND và USD được điều chỉnh ở mức phù hợp. Cụ thể, khi cầu ngoại tệ trên thị trường tăng đột biến vào tháng 7/2018, NHNN đã nhanh chóng bán khoảng hơn 2 tỷ USD để bình ổn thị trường. Điểm đặc biệt, trong năm 2018, NHNN đã áp dụng chính sách mua bán tỷ giá mới, áp dụng chính sách mua forward (kỳ hạn) trong thời điểm mà cung về ngoại tệ rất dồi dào trong sáu tháng đầu năm và bán forward khi mà cầu về ngoại tệ tăng cao liên tục trong những tháng cuối năm, tạo điều kiện cho các doanh nghiệp xác định được trước chi phí để mua/bán ngoại tệ phù hợp với phương án sản xuất kinh doanh7. Mức chênh lệch lãi suất VND và USD trên thị trường liên ngân hàng được duy trì ở ngưỡng 2% từ tháng 8/2018, đây là mức chênh lệch khá an toàn, không gây áp lực lên tỷ giá. 
 
Thứ ba, lãi suất được duy trì ổn định, hỗ trợ nền kinh tế phát triển. Mặt bằng lãi suất huy động và cho vay được duy trì khá ổn định trong năm 2018 và hầu như không xảy ra biến động lớn. Đến cuối năm 2018, lãi suất huy động bình quân khoảng 5,25% chỉ tăng nhẹ 0,14% so với năm 2017. Trên cơ sở đó, nguồn vốn huy động từ tổ chức kinh tế và dân cư tăng trưởng ổn định so với năm 2017 với vốn huy động ước tăng 15% so với năm 2017, cao hơn tốc độ năm 2017 (14,6%). Tỷ trọng vốn huy động VND vẫn chiếm tỷ trọng cao nhưng tỷ trọng vốn ngoại tệ đã tăng lên 9,9% trong tổng vốn huy động, nhờ kết quả tốc độ tăng trưởng của huy động ngoại tệ tăng mạnh, khoảng 17% (gấp 8 lần tốc độ tăng trưởng năm 2017), cao hơn tốc độ tăng trưởng của vốn huy động VND, chỉ ở mức 14,3%7. Tính chung cả năm, lãi suất cho vay bình quân khoảng 8,91% gần như không thay đổi so với năm 2017 (chỉ tăng khoảng 0,05%). 
 
Tuy nhiên, thị trường vào cuối năm 2018 phải đối mặt với những vấn đề về thu hẹp thanh khoản trong hệ thống ngân hàng, áp lực tăng lãi suất cho vay cao và dư địa thực hiện các công cụ của chính sách tiền tệ đã hẹp hơn so với đầu năm 2018. Cụ thể: 

Thứ nhất, thách thức trong đảm bảo tính thanh khoản của hệ thống ngân hàng: Từ cuối tháng 7/2018, lãi suất liên ngân hàng bắt đầu tăng, đến cuối năm 2018, lãi suất bình quân kỳ hạn qua đêm đang ở mức 3,91%/năm, lãi suất của các kỳ hạn dài hơn đều đang ở mức cao nhất trong cả năm, lãi suất kỳ hạn 3 tháng và 6 tháng đang ở mức cao nhất, chạm mốc 5,6% và 6,2%. Lãi suất liên ngân hàng tăng cho thấy tính thanh khoản của hệ thống ngân hàng những tháng cuối năm đã kém dồi dào hơn. Sự eo hẹp của thanh khoản hệ thống dẫn tới nhiều ngân hàng thương mại đã có động thái tăng lãi suất huy động trên thị trường. Thanh khoản ngân hàng đã và đang chịu áp lực cao từ tỷ giá và nhu cầu vốn dài hạn cao từ các NHTM để đáp ứng yêu cầu giảm tỷ lệ sử dụng vốn ngắn hạn cho vay trung dài hạn từ 45% xuống 40% từ 1/1/2019. 
 
Thứ hai, thách thức trong điều hành chính sách tiền tệ khi dư địa thực hiện các công cụ chính sách đã thu hẹp lại: Việc tiếp tục sử dụng dự trữ ngoại hối hoặc nâng lãi suất để ổn định giá trị đồng VND trong ngắn hạn đều có thể dẫn tới những rủi ro cho nền kinh tế. Trong năm 2018, NHNN đã sử dụng dự trữ ngoại hối và nâng lãi suất để ổn định giá trị VND khi gặp biến động lớn. Việc thực hiện biện pháp này thuận lợi trong năm 2018 do cuối năm 2017 và đầu năm 2018, lượng dự trữ ngoại hối của Việt Nam còn tương đối dồi dào. Trong nửa đầu năm 2018, mặt bằng lãi suất liên ngân hàng được duy trì ổn định do thanh khoản hệ thống được hỗ trợ từ việc NHNN mua được lượng lớn ngoại tệ. Từ cuối năm 2017 đến giữa năm 2018, NHNN đã mua ròng cỡ trên 20 tỷ USD đồng nghĩa với khoảng 450.000 tỷ đồng đối ứng. Dòng vốn này phải liên tục trung hòa bằng phát hành tín phiếu hút bớt tiền đồng về, nó tạo tính thanh khoản dồi dào và thậm chí dư thừa trong hệ thống. Tính đến hết tháng 4 năm 2018, dự trữ ngoại hối đã đạt gần 63 tỷ USD. Tuy nhiên, hiện nay, lượng dự trữ ngoại hối đã mỏng hơn nhiều. Tổng dự trữ ngoại hối của NHNN đã giảm hơn 3,7 tỷ USD kể từ tháng 7 (hơn 50% số này được bán ra trong tháng 7 khi chỉ trong tháng đó VND mất giá gần 2% so với USD). Do đó, dư địa chính sách cho NHNN cũng đã hạn chế về quy mô. 
 
Thứ ba, thách thức từ áp lực tăng lãi suất cho vay đang có chiều hướng gia tăng. Mặt bằng lãi suất huy động và lãi suất cho vay trong đà tăng, có thể gây cản trở tới duy trì tăng trưởng kinh tế cao vào năm 2019. Những năm gần đây, lãi suất tại Việt Nam giảm một phần là nhờ lạm phát thấp, cho vay bằng ngoại tệ, và đặc biệt là việc các NHTM sử dụng vốn ngắn hạn với chi phí thấp để cho vay dài hạn. Từ năm 2019, việc phải duy trì tỉ lệ sử dụng vốn ngắn hạn cho vay trung dài hạn, xuống dưới 40% từ 1/1/2019 và chuẩn bị tăng vốn cấp 2 đảm bảo thực hiện đầy đủ tiêu chuẩn Basel II (70% đáp ứng đủ điều kiện Basel II vào năm 2020) sẽ khiến áp lực huy động vốn lên ngân hàng tăng cao. Trong năm 2018, mặt bằng lãi suất tăng, đặc biệt tập trung tăng nhiều vào các kỳ hạn dài, từ 12 tháng trở lên. Lãi suất huy động trung, dài hạn tăng chủ yếu là bởi áp lực huy động vốn để đáp ứng yêu cầu giảm giới hạn tỷ lệ sử dụng vốn ngắn hạn cho vay trung dài hạn, xuống dưới 40% từ 1/1/2019 và chuẩn bị tăng vốn cấp 2 đảm bảo thực hiện đầy đủ tiêu chuẩn Basel II. Trong khi nhu cầu vay vốn trung dài hạn của nền kinh tế vẫn lớn, khi hai năm trở lại đây hoạt động của các ngân hàng Việt Nam có xu hướng đẩy mạnh cho vay tiêu dùng mua nhà ở, mà đây chủ yếu là tín dụng trung dài hạn. Như vậy, mặt bằng lãi suất trong ngắn hạn sẽ tiếp tục đứng ở mức cao cho đến hết quý I/2019. Thị trường vốn phát triển nhưng chưa đáp ứng được nhu cầu vốn của nền kinh tế và hệ thống ngân hàng vẫn là kênh chủ lực cung ứng vốn, hiện vốn doanh nghiệp phụ thuộc chủ yếu vào ngân hàng, với 80% nguồn tín dụng cho doanh nghiệp đến từ ngân hàng thương mại. Trong khi đó, thị trường chứng khoán chỉ cung ứng 20% vốn cho các doanh nghiệp. Do đó, việc tăng lãi suất cho vay sẽ gây khó khăn cho sản xuất kinh doanh và có những tác động nhất định tới tăng trưởng kinh tế. 
 
Thứ tư, hiệu quả hoạt động, phân phối nguồn vốn của hệ thống tổ chức tín dụng còn nhiều hạn chế. Trong cơ cấu nguồn thu của ngân hàng, mặc dù, tỷ trọng của nguồn thu từ hoạt động kinh doanh phi tín dụng của ngân hàng đang ngày càng gia tăng nhưng các hoạt động phi tín dụng của ngân hàng vẫn còn nhiều hạn chế. Mảng dịch vụ phi tín dụng tại các NHTM Việt Nam còn đơn điệu về hình thức, chất lượng chưa cao, quy mô dịch vụ nhỏ và năng lực cạnh tranh còn hạn chế. Những hạn chế trên xuất phát từ nhiều nguyên nhân, về sự thiếu quan tâm của ngân hàng đối với phát triển hoạt động phi tín dụng, chất lượng nguồn nhân lực chưa đáp ứng nhu cầu phát triển hoạt động phi tín dụng, thói quen tiêu dùng chưa ưa chuộng các dịch vụ tài chính phi tín dụng của khách hàng. Bên cạnh đó, việc tăng cường quản trị rủi ro, tăng cường công tác thanh tra, giám sát đối với các ngân hàng gặp nhiều khó khăn. Khi triển khai Basel II, một số thách thức đặt ra cho ngành Ngân hàng và nhà quản lý chính sách như: thách thức về kỹ thuật, chi phí; thách thức khi tăng vốn, giảm tài sản có rủi ro, thách thức trong xây dựng hệ thống dữ liệu tin cậy và chính xác cao, phục vụ việc đánh giá và kiểm soát rủi ro. 
 
3. Thách thức và triển vọng thị trường năm 2019
 
Trong năm 2019, thị trường tiền tệ, tín dụng sẽ phải đối mặt với không ít khó khăn thách thức do những vấn đề nội tại của thị trường tiền tệ - tín dụng Việt Nam và những tác động bất lợi của bối cảnh kinh tế - tài chính trong và ngoài nước. 
 
Về thách thức, những diễn biến khó lường của cuộc chiến thương mại Mỹ - Trung, khả năng thay đổi chính sách tiền tệ của các nền kinh tế lớn trên thế giới, nguy cơ tăng trưởng kinh tế toàn cầu chậm lại và tăng lãi suất toàn cầu sẽ có những tác động nhất định tới thị trường tiền tệ - tín dụng Việt Nam. Tăng trưởng kinh tế toàn cầu đang có dấu hiệu chững lại trong bối cảnh căng thẳng thương mại giữa Mỹ - Trung Quốc leo thang, lãi suất tăng mạnh hơn dự kiến và dòng vốn chảy khỏi các thị trường mới nổi. Các rào cản thương mại ngày càng gia tăng sẽ làm gián đoạn các chuỗi cung ứng toàn cầu và hạn chế sự phát triển của công nghệ mới, khiến năng suất suy giảm. Việc áp đặt các biện pháp hạn chế nhập khẩu sẽ không chỉ làm ảnh hưởng đến thương mại giữa các nước, mà còn khiến hàng hóa tiêu dùng trở nên đắt đỏ hơn. Theo đó, IMF dự báo, năm 2019 tốc độ tăng trưởng kinh tế toàn cầu chững lại sẽ đạt 3,7%, tăng trưởng thương mại toàn cầu sẽ giảm còn 4%9. Thị trường tài chính toàn cầu có những biến động khó lường, đặc biệt các nền kinh tế lớn là đối tác hàng đầu của Việt Nam. Ngân hàng Trung ương Trung Quốc (PBoC) đã phát đi thông điệp nới lỏng tiền tệ trong những năm tới, trong khi đó Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed) cũng đã phát đi tín hiệu năm 2019 sẽ tiếp tục lộ trình tăng lãi suất. Trong nước, việc thực hiện đa mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội tiếp tục đặt ra áp lực lớn lên việc thực thi các chính sách tiền tệ. Năm 2019 Chính phủ kiên định mục tiêu ổn định kinh tế vĩ mô, cải cách các lĩnh vực trọng yếu cũng như đổi mới mô hình tăng trưởng nhằm đạt được các mục tiêu phát triển kinh tế xã hội đã đề ra trong Kế hoạch 2016 - 2020, hướng tới tăng trưởng bền vững. NHNN sẽ tiếp tục điều hành linh hoạt, cẩn trọng, phối hợp hiệu quả với các chính sách vĩ mô, tăng cường hoạt động quản lý, thanh tra giám sát an toàn nhằm duy trì ổn định hệ thống ngân hàng, cải thiện môi trường kinh doanh, hỗ trợ tăng trưởng bền vững. Năm 2019, cũng là năm bản lề tạo đà hoàn thành Đề án Kế hoạch Tái cơ cấu ngân hàng giai đoạn 2 (2016 - 2020) được Chính phủ phê duyệt tại Quyết định số 1058/QĐ-TTg, và thực hiện Thông tư số 41/2016/TT-NHNN quy định về tỷ lệ an toàn vốn đối với ngân hàng với những yêu cầu khắt khe hơn theo chuẩn Basel II sẽ chính thức có hiệu lực vào đầu năm 2020. Trong khi nội tại thị trường tiền tệ - tín dụng Việt Nam đang phải đối mặt với những thách thức từ việc đảm bảo tính thanh khoản của hệ thống ngân hàng, dư địa thực hiện các công cụ chính sách đã thu hẹp lại,  áp lực tăng lãi suất cho vay đang có chiều hướng gia tăng. 
 
Về triển vọng thị trường, thị trường tiền tệ, tín dụng trong năm 2019 sẽ không có nhiều biến động mạnh nhờ sự hỗ trợ của các yếu tố tích cực từ sự tăng trưởng kinh tế tích cực, lạm phát được kiểm soát ổn định thời gian qua, kết hợp với môi trường đầu tư kinh doanh cải thiện, cải cách hành chính, khuôn khổ pháp lý. Kinh tế Việt Nam năm 2019, được kỳ vọng tiếp tục tăng trưởng tích cực bởi nhận được sự hỗ trợ từ Hiệp định Đối tác Toàn diện và Tiến bộ xuyên Thái Bình Dương (CPTPP) và các Hiệp định FTAs khác. Xu hướng dịch chuyển sản xuất do tác động của căng thẳng thương mại cũng được kỳ vọng sẽ đem lại lợi ích kinh tế cho Việt Nam. Trong khi đó, lạm phát của Việt Nam sẽ không tăng mạnh do giá hàng hóa thế giới được dự báo sẽ chỉ tăng nhẹ10. Những yếu tố này tạo thế và lực cho nền kinh tế trong năm 2019, đồng thời tạo điều kiện thuận lợi để NHNN thực hiện thành công các mục tiêu điều hành chính sách tiền tệ.  
 
1 Theo Nghị quyết số 01/NQ-CP ngày 1/1/2018 về những nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội và dự toán ngân sách nhà nước năm 2018.
2 Ủy ban giám sát tài chính quốc gia, NFSC (20/12/2018), “Báo cáo tổng quan thị trường tài chính năm 2018”
3 Theo số liệu thống kê của Tổng cục Thống kê
4 NHNN đã mua khoảng 8 tỷ USD từ các NHTM trong nửa đầu năm 2018. 
5 Theo báo cáo của Cục Đầu tư nước ngoài, Bộ Kế hoạch và Đầu tư, tính chung trong năm 2018, tổng vốn đăng ký cấp mới, tăng thêm và góp vốn mua cổ phần của nhà đầu tư nước ngoài đạt 35,46 tỷ USD, bằng 98,8% so với cùng kỳ năm 2017. Ước tính các dự án đầu tư trực tiếp nước ngoài đã giải ngân 19,1 tỷ USD, tăng 9,1% so với cùng kỳ năm 2017. 
6 Ước tính cả năm 2018, tổng kim ngạch xuất nhập khẩu hàng hóa thiết lập mức kỷ lục mới với 482,2 tỷ USD. Cán cân thương mại hàng hóa xuất siêu 7,2 tỷ USD, là năm có giá trị xuất siêu lớn nhất từ trước đến nay.
7 Theo Thời báo Kinh tế Sài Gòn. 
8 Số liệu theo Ủy ban giám sát tài chính quốc gia. 
9  Theo Thông tư 16/2018/TT-NHNN, Thông tư số 19/2017/TT-NHNN ngày 28/12/2017 của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 36/2014/TT-NHNN.
10  Nguồn: IMF World Economic Outlook Oct 2018, Challenges to Steady Growth. https://www.imf.org/en/Publications/WEO/Issues/2018/09/24/world-economic-outlook-october-2018 .
11 Đối với tỷ lệ lạm phát, theo IMF dự báo, tại các nước phát triển, lạm phát khoảng 2,1% trong năm 2019; Tại các nước mới nổi và đang phát triển, lạm phát khoảng 5,2% trong năm 2019. 
 
Tài liệu tham khảo
 
1. Kỷ yếu hội thảo “Tình hình kinh tế - tài chính Việt Nam 2018 và triển vọng” , Viện Chiến lược và chính sách tài chính (12/2018). 
2. Ngân hàng nhà nước (12/2018), “Các tổ chức tài chính – tiền tệ quốc tế, các TCTD nước ngoài tại Việt Nam cam kết đồng hành và hỗ trợ NHNN trong năm 2019”
3. Ủy ban giám sát tài chính quốc gia, NFSC (20/12/2018), “Báo cáo tổng quan thị trường tài chính năm 2018”
4. Phạm Long (12/2018), “Mục tiêu nào cho điều hành chính sách tiền tệ năm 2019?”, Thời báo Kinh tế Sài Gòn.
5. Cấn Văn Lực (12/2018), “Năm 2019: Điều hành tỷ giá cần linh hoạt hơn”, Thời báo Tài chính. 
6. IMF World Economic Outlook Oct 2018, Challenges to Steady Growth. https://www.imf.org/en/Publications/WEO/Issues/2018/09/24/world-economic-outlook-october-2018
7. Nguồn số liệu: NHNN, Reuters, IMF, NFSC

TS. Nguyễn Viết Lợi * Viện trưởng Viện Chiến lược và Chính sách tài chính - Bộ Tài chính 
ThS. Đinh Ngọc Linh** Viện Chiến lược và Chính sách tài chính - Bộ Tài chính

Nguồn: TCNH số 2+3/2019
 

Bình luận Ý kiến của bạn sẽ được biên tập trước khi đăng. Xin vui lòng gõ tiếng Việt có dấu