Thứ Ba, ngày 26 tháng 01 năm 2021

Thể chế và năng lực cạnh tranh quốc gia

Ngày đăng:08:28 22/03/2017
Lượt xem: 2.403
Cỡ chữ
Một môi trường thể chế chất lượng cao là điều kiện tiên quyết đảm bảo tỷ suất sinh lời cao từ việc đầu tư vào công nghệ và vốn nhân lực, do vậy, nó đóng vai trò kích thích doanh nghiệp đầu tư vào R&D, còn người dân đầu tư tiền của của mình để nâng cao vốn nhân lực. Nguy cơ nền kinh tế nước ta rơi vào bẫy thể chế biểu hiện ngày càng rõ rệt và chúng ta không thể đạt được mục tiêu tăng trưởng kinh tế - xã hội bền vững nếu Chính phủ Việt Nam không thực hiện các cải cách thể chế quyết liệt.

Năm 2009, khi khủng hoảng kinh tế lan rộng trên toàn thế giới, Việt Nam xếp thứ 75 về năng lực cạnh tranh; đến năm 2015, nước ta đã cải thiện được 19 bậc, xếp thứ 56. Năng lực cạnh tranh quốc gia tăng nhưng không tạo được bước nhảy vọt về chất trong tăng trưởng kinh tế. Một trong những nguyên nhân căn bản cản trở xu hướng thay đổi tích cực của hệ thống kinh tế là chất lượng môi trường thể chế ngày càng đi xuống. Tiêu chí thể chế giảm từ hạng 63 (điểm 3,93) năm 2009 xuống còn 85 (3,68 điểm) năm 2015. Tạo dựng một môi trường thể chế chất lượng cao là một trong những điều kiện rất quan trọng để nâng cao năng lực cạnh tranh và phát triển kinh tế - xã hội bền vững. Một môi trường thể chế chất lượng cao là điều kiện tiên quyết đảm bảo tỷ suất sinh lời cao từ việc đầu tư vào công nghệ và vốn nhân lực, do vậy, nó đóng vai trò kích thích doanh nghiệp đầu tư vào R&D, còn người dân đầu tư tiền của của mình để nâng cao vốn nhân lực. Nguy cơ nền kinh tế nước ta rơi vào bẫy thể chế biểu hiện ngày càng rõ rệt và chúng ta không thể đạt được mục tiêu tăng trưởng kinh tế - xã hội bền vững nếu Chính phủ Việt Nam không thực hiện các cải cách thể chế quyết liệt.
 
 
1. Thể chế và năng lực cạnh tranh
Năng lực cạnh tranh được định nghĩa là “nhóm thể chế, chính sách và các nhân tố quyết định đến năng suất của một nền kinh tế” (WEF, 2009). Năng lực cạnh tranh là chìa khóa hướng đến sự phồn vinh của một dân tộc. Nâng cao năng lực cạnh tranh là một trong các chính sách kinh tế vĩ mô quan trọng hàng đầu của nhà nước. Tuy nhiên, thực thi hiệu quả chính sách này là một nhiệm vụ thực sự khó khăn đối với các nước đang phát triển. Tồn tại nhiều yếu tố gây cản trở cho năng lực cạnh tranh của một quốc gia, đó là sự can thiệp thái quá của Nhà nước vào nền kinh tế, cạnh tranh không hoàn hảo trên các thị trường, sự thiếu vắng các cơ chế thị trường để điều tiết các quá trình kinh tế, thị trường tài chính chưa phát triển, hiệu quả làm việc thấp của các cơ quan hành chính nhà nước, việc thực thi pháp luật còn hạn chế, tình trạng thiếu hụt lực lượng lao động có trình độ cao với chuyên môn phù hợp với yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội, đầu tư cho R&D và thương mại hóa kết quả nghiên cứu khoa học yếu kém. Trong số các yếu tố kể trên, thể chế đóng vai trò quyết định đối với năng lực cạnh tranh của nền kinh tế.
Khái niệm thể chế được hiểu theo các cách khác nhau. Ban đầu, thể chế được xem là các quy tắc. Ngày nay, thể chế được hiểu là các quy tắc quy định hành vi của các chủ thể kinh tế. Theo quan điểm của North (1990), thể chế gồm ba bộ phận cấu thành: (i) Những chuẩn mực phi chính thức (truyền thống, tập quán, dư luận xã hội…); (ii) Những quy tắc chính thức (hiến pháp, luật, phán quyết của tòa án, xử lý hành chính); (iii) Cơ chế thực thi pháp luật.
Trong hệ thống kinh tế thị trường, thể chế có vai trò quan trọng là giảm thiểu chi phí giao dịch của nền kinh tế. Môi trường thể chế là toàn bộ các khả năng quyết định sự lựa chọn hình thức hoạt động. Môi trường thể chế chất lượng cao giúp giảm thiểu chi phí giao dịch, khuyến khích doanh nghiệp đầu tư vào công nghệ, người dân đầu tư vào vốn nhân lực, nâng cao năng lực cạnh tranh của nền kinh tế nên nhờ đó, đảm bảo tăng trưởng kinh tế bền vững, còn ngược lại, môi trường thể chế chất lượng thấp làm giảm năng lực cạnh tranh, không chỉ kìm hãm mà còn gây bất ổn cho tăng trưởng kinh tế.
Tuy nhiên, cải thiện môi trường thể chế không phải việc làm dễ dàng. Tồn tại các rào cản khó vượt qua.
 
2. Giả thuyết Path Dependence - lời giải thích cho sức ỳ thể chế
Giả thuyết Path Dependence (tạm dịch là hiệu ứng đường ray (Nguyễn Ngọc Thạch, 2015) đóng vai trò lớn trong nghiên cứu lịch sử phát triển của các quốc gia dưới góc độ thể chế. Khái niệm “Ðường ray” cho phép tập trung sự chú ý vào hoàn cảnh khi một nước do những nguyên nhân nào đó tiếp tục đi theo quỹ đạo phát triển đã chọn của mình cho dù đó không phải là con đường tốt nhất. Vấn đề “Hiệu ứng đường ray” là lĩnh vực liên ngành. Trước khi các nhà kinh tế Mỹ mà nhận giải Nô ben về những nghiên cứu liên quan đến vấn đề này, nó đã được phản ánh trong các tác phẩm triết học thuộc cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX. Sau đó, xuất hiện các nghiên cứu định lượng cho phép xác định vấn đề này một cách rõ ràng và các phương án giải thích nó. Rút cuộc, kinh tế học chính trị mới đặt vấn đề làm thế nào để khắc phục vấn đề “Hiệu ứng đường ray”.
Nếu chúng ta không sử dụng phân tích định lượng thì tất cả các giả thuyết được đặt ra trước đó về “Hiệu ứng đường ray” không thể được kiểm chứng. Maddison - một trong các nhà thống kê kiệt xuất nhất là người đầu tiên đặt vấn đề về giả thuyết này. Năm 1990, ông ta thực hiện một ý tưởng đơn giản là kết hợp số liệu trong suốt 200 năm tồn tại ngành thống kê vào một bảng biểu (Maddison, 2007). Nhờ phương pháp luận và kết quả nghiên cứu của ông mà chúng ta phát hiện được các quy luật phát triển thật thú vị. Thông qua các số liệu thống kê do Maddison tổng hợp, chúng ta nhận thấy tất cả quốc gia đi theo hai quỹ đạo phát triển A và B. Nền kinh tế của chúng tăng trưởng với các tốc độ khác nhau. Tốc độ phát triển trong nhiều thập kỷ của nhóm nước A cao hơn nhiều so với nhóm nước B. Năm nước đã thành công trong việc thay đổi được quỹ đạo phát triển trong thế kỷ XX là Nhật Bản, Hàn Quốc, Hồng Kông, Singapore và Ðài Loan. Ðồng thời có thể nhận thấy một số nước đang thực hiện hiện đại hóa nhưng còn sớm có thể nói về sự thay đổi quỹ đạo phát triển của chúng. Chẳng hạn, Trung Quốc, Malaysia, Thái Lan, Ấn Ðộ… Như vậy, số liệu thống kê chứng minh được rằng “Hiệu ứng đường ray” tồn tại. Rõ ràng có những lực lượng níu kéo các nước trên quỹ đạo A hoặc B. Những lực lượng này gắn liền với chất lượng thể chế.
Các số liệu thống kê cho phép khẳng định hai quỹ đạo phát triển đề cập trên là có thể.Thành tựu quan trọng trong nghiên cứu giả thuyết về Path Dependence thuộc về hai tên tuổi Paul David và Douglas North. Kết quả nghiên cứu trong lĩnh vực này đã mang về cho North giải Nô ben kinh tế. Việc phát hiện hiệu ứng QWERTY bởi David (1985) bổ sung lý luận của North. Công lao của tư tưởng lịch sử kinh tế mới là tư duy quá trình phát triển theo cách tiếp cận mới. Công trình của David gây nhiều tranh luận nhưng ý tưởng chính của nó vẫn được giới khoa học trân trọng: khi một tiêu chuẩn công nghệ nào đó đã được ứng dụng một cách sai lầm thì sau đó, không thể thoát ra khỏi quỹ đạo sai lầm do tính kinh tế theo quy mô và hiệu ứng mạng. Có thể dẫn ra nhiều ví dụ trong lĩnh vực công nghệ. Chẳng hạn, các máy in với bàn phím QWERTY hay chiều rộng của đường ray xe lửa. Từ lĩnh vực công nghệ, “Hiệu ứng đường ray” biểu hiện sang lĩnh vực thể chế. North lập luận rằng, khả năng phạm sai lầm trong lựa chọn ban đầu về thể chế là tồn tại. Ông phân tích trường hợp Anh và Tây Ban Nha. Vào thế kỷ XVI hai nước này đã đạt được các chỉ tiêu kinh tế vĩ mô tương đồng. Tuy nhiên, vào thế kỷ XIX, các chỉ tiêu phát triển giữa họ lệch xa nhau. Nguyên nhân gây nên sự chênh lệch này là Tây Ban Nha lựa chọn chế độ quân chủ phong kiến, trong khi quyền lực ở Anh rơi vào tay Quốc hội. Vấn đề ở chỗ giống như các chuẩn mực, thể chế quyết định sự lựa chọn quỹ đạo phát triển, còn chất lượng thể chế và các yếu tố văn hóa “níu kéo” quốc gia đó trong quỹ đạo được lựa chọn. Chính vì rào cản này mà nhiều quốc gia không thể thoát khỏi quỹ đạo đang đi dù họ nhận thức được sai lầm của mình.
Ở đây, chúng ta xem xét giả thuyết mở rộng “North-Wallis-Weingast” được phản ảnh trong cuốn sách “Violence anh Social Order: A Conceptual Framework for Interpreting Recorded Human History” (North và các cộng sự, 2011). Các tác giả phân tích tại sao các nước đi theo các quỹ đạo phát triển khác nhau và làm thế nào để thực hiện việc chuyển đổi từ quỹ đạo này sang quỹ đạo khác. Theo tính toán của họ, quá trình chuyển đổi này rất phức tạp và kéo dài không ít hơn 50 năm. Vậy là tồn tại hai thế giới khác nhau, hai trật tự xã hội khác nhau mà được phân biệt bằng tập hợp các quy tắc. Trong một trường hợp, giới thượng lưu làm luật cho người khác, còn trong trường hợp khác, họ xây dựng luật cho bản thân họ, rồi gán chúng cho người khác. Trong trường hợp thứ nhất, các tổ chức thương mại, phi thương mại và chính trị được thành lập xung quanh các nhân vật và triệt tiêu cùng với họ, còn trong trường hợp thứ hai, các tổ chức sống lâu hơn người sáng lập chúng. Trong trường hợp thứ nhất, các công cụ bạo lực phân phối giữa các nhóm thượng lưu, còn trong trường hợp thứ hai, tồn tại sự kiểm soát tập thể.
Vậy thì cơ chế chuyển đổi từ một trật tự xã hội này sang trật tự khác như thế nào?
Tồn tại nhiều giả thuyết về vấn đề này.
Theo giả thuyết phát triển hay giả thuyết hiện đại hóa của Seymour Lipset - người đứng đầu trường phái thể chế trong xã hội học, tăng trưởng kinh tế sẽ dẫn đến các hệ quả xã hội, phổ cập giáo dục, xuất hiện tầng lớp trung lưu và hình thành dân chủ. Tuy nhiên, quan điểm đối lập cho rằng dân chủ có trước, nó thúc đẩy tăng trưởng kinh tế.
Polterovich, Popov (2007), Persson, Tabellini (2007) thì chứng minh rằng không tồn tại mối quan hệ nhân quả nhất quán giữa dân chủ hóa và tăng trưởng kinh tế. Dân chủ có thể dẫn đến hậu quả tiêu cực nếu một nước có hệ thống thể chế yếu và tác động tích cực nếu các thể chế của nó mạnh.
Tuy nhiên, theo chúng tôi, quan điểm của Acemoglu và các cộng sự (2009) chuẩn mực hơn cả. Họ nhấn mạnh rằng không tồn tại mối quan hệ nhân quả giữa tăng trưởng thu nhập và dân chủ hóa do một nhân tố quan trọng bị bỏ qua. Ðó là hệ thống các quy tắc chính thức và phi chính thức. Thể chế chính thức được phân tích, bàn luận nhiều, trong khi thể chế phi chính thức được nghiên cứu còn sơ sài.Các yếu tố văn hóa xã hội là một loại thể chế phi chính thức.
Mãi cho đến giữa thế kỷ XX, các nghiên cứu về văn hóa chủ yếu dừng lại ở các khái niệm. Ngày nay, xuất hiện khả năng không chỉ nghiên cứu định lượng các yếu tố văn hóa xã hội, mà còn xu hướng thay đổi của chúng. Hofstede (2001) và Inglehart (1977) đi đầu trong lĩnh vực này. Phương pháp luận của họ cho phép so sánh dãy động thái của các yếu tố văn hóa xã hội với dãy động thái của các chỉ số kinh tế vĩ mô. Phân tích các dãy động thái của Hàn Quốc, Singapore, Hồng Kông và Ðài Loan cho phép nhận thấy, tất cả bốn nước này mà đã chuyển sang nhóm A, biểu diễn một dãy động thái tương đồng về sự phát triển các đặc tính văn hóa xã hội. Chúng được phản ánh trong các chỉ số Inglehart (chuyển từ các giá trị truyền thống sang các giá trị lý tính, tăng trưởng các giá trị tự thể hiện) cũng như các hệ số Hofstede hay hệ số hành vi (tăng trưởng tầm quan trọng của tính cá nhân, giảm khoảng cách quyền lực, xuất hiện định hướng dài hạn). Rõ ràng ở đây, tồn tại một mối quan hệ bền vững giữa sự chuyển dịch giá trị và sự chuyển dịch kinh tế.
 
3. Chất lượng môi trường thể chế thấp - rào cản đối với năng lực cạnh tranh của Việt Nam
Ngày nay, các nghiên cứu uy tín về thể chế trên thế giới cho ra đời một số bộ chỉ tiêu quan trọng để đánh giá chất lượng môi trường thể chế của các quốc gia. Chất lượng của môi trường thể chế có thể được đánh giá thông qua 6 chỉ số quản trị toàn cầu (Global Governance
Indicators) của Ngân hàng Thế giới. Chất lượng thể chế cũng được đánh giá trong một báo cáo uy tín khác - Báo cáo năng lực cạnh tranh toàn cầu (Global Competitiveness Report) của Diễn đàn kinh tế thế giới (WEF). Phân tích số liệu các năm khác nhau về Việt Nam trong hai báo cáo này, có thể nhận thấy chất lượng thể chế của nước ta vừa thấp vừa chậm được cải thiện. Theo số liệu của bảng 1, trong giai đoạn 1996-2014, mức độ năm 2013 thấp hơn so năm 1996 đối với tất cả các chỉ số quản trị toàn cầu. Duy chỉ có chỉ số ổn định chính trị mang giá trị dương. Các chỉ số của năm 2014 có sự cải thiện. Riêng chỉ số ổn định chính trị của Việt Nam cao so với các chỉ số khác. (Bảng 1)
 
Ðể đánh giá khách quan bộ chỉ số quản trị toàn cầu, cần tiến hành sự so sánh giữa Việt Nam với các nước khác, đặc biệt với các nước có các vị trí kinh tế vĩ mô tương đồng. Kết quả đánh giá năm 2013 của Ngân hàng Thế giới cho thấy, trong 215 nước được khảo sát, Việt Nam đứng 118/215 về chỉ số hiệu quả nhà nước, 151/215 về chất lượng các thể chế điều tiết, 129/215 về chất lượng các thể chế pháp quyền, 133/215 về kiểm soát tham nhũng. So sánh với 12 nước trong khu vực Ðông Á và Ðông Nam Á bao gồm Campuchia, Trung Quốc, Hồng Kông, Indonesia, Hàn Quốc, Lào, Malaysia, Philippines,
Singapore, Ðài Loan, Thái Lan, Việt Nam; về hiệu quả nhà nước, Việt Nam đứng thứ 10, trên Lào và Campuchia; về chất lượng các thể chế điều tiết, chúng ta hơn Lào; về chất lượng các thể chế pháp quyền và kiểm soát tham nhũng - Việt Nam đều xếp thứ 9/12.
Chỉ số năng lực cạnh tranh toàn cầu là nghiên cứu trên quy mô toàn thế giới đính kèm với bảng xếp hạng các quốc gia về năng lực cạnh tranh kinh tế được công bố từ năm 2004. Các tiêu chí đánh giá của WEF được chia thành 3 nhóm chính bao gồm: nhóm 1 - các yêu cầu căn bản (kinh tế vĩ mô, giáo dục cơ bản - y tế, kết cấu hạ tầng, thể chế); nhóm 2 - các yếu tố nâng cao (giáo dục và đào tạo bậc cao, mức độ hiệu quả trên thị trường lao động, hiệu quả trên thị trường hàng hóa, sự phát triển của hệ thống tài chính, trình độ công nghệ, quy mô thị trường) và các yếu tố về tinh vi - đột phá (sự tinh vi của hệ thống doanh nghiệp, khả năng đột phá).
Trong 3 nhóm tiêu chí này, Việt Nam luôn được chấm điểm cao nhất về các yêu cầu căn bản - nhóm tiêu chí chính dành cho các nước có thu nhập bình quân đầu người dưới 2000 đô la Mỹ/năm. Ðáng chú ý là trong nhóm1, tiêu chí thể chế của Việt Nam được đánh giá còn thấp (ngoại trừ Báo cáo 2015-2016) và xếp hạng tương ứng còn thấp mặc dù năng lực cạnh tranh của nước ta cải thiện từ vị trí 75 (Báo cáo 2009-2010) lên đến 56 (Báo cáo 2015-2016) (Bảng 2).
Nước ta xếp hạng trong nhóm các quốc gia có thứ bậc trên 50. Nếu so sánh với các nước trong khu vực thì Việt Nam vẫn kém hơn Trung Quốc, Malaysia, Thái Lan, Indonesia, Brunei, Philippines, chỉ hơn Lào, Campuchia và Myanmar.
Thực trạng môi trường thể chế của Việt Nam có thể được đánh giá thông qua phân tích một số vấn đề.
Trong các năm qua, hệ thống thủ tục hành chính của nước ta được cải cách theo hướng đơn giản và công khai, đã tạo thuận lợi hơn cho người dân và
doanh nghiệp trong giao dịch hành chính. Ðặc biệt, các thủ tục về đăng ký doanh nghiệp, thuế, hải quan, xuất nhập khẩu được đổi mới. Việc quản lý thu phí và lệ phí, quy định công khai và minh bạch nguyên tắc thu, mức thu, chế độ thu nộp, sử dụng và quản lý các loại phí, lệ phí được đưa vào trật tự, kỷ cương mới. Việc tổ chức bộ máy hành chính cũng được cải cách thông qua điều chỉnh chức năng, nhiệm vụ của Chính phủ, các Bộ, ngành để khắc phục tính chồng chéo trong hoạt động của các cơ quan nhà nước; thực hiện phân cấp quản lý giữa trung ương và địa phương; sắp xếp cơ cấu tổ chức các chính quyền trung ương và địa phương theo hướng gọn nhẹ hơn dựa trên nguyên tắc đa ngành, đa lĩnh vực; đổi mới công tác quản lý cán bộ, công chức thông qua hệ thống các tiêu chuẩn, chức danh, vị trí việc làm. Tuy nhiên, cải cách hành chính với tiến độ còn chậm so với cải cách kinh tế. Nhiều thủ tục chưa rõ ràng và nhất quán. Hệ thống pháp luật thiếu đồng bộ, cơ chế “xin - cho” vẫn tồn tại, chất lượng đội ngũ công chức còn hạn chế về tính chuyên môn, tính chuyên nghiệp.
Chất lượng văn bản pháp quy, nhìn chung còn thấp hơn so với các nước trong khu vực. Thứ nhất, số lượng văn bản pháp quy quá nhiều, chồng chéo, khả năng thực thi thiếu hiệu quả do thủ tục hành chính rườm rà. Vẫn còn văn bản quy phạm pháp luật còn có dấu hiệu trái luật. Thứ hai, tính minh bạch và nhất quán trong các quy định pháp luật. Một số luật khi xây dựng có tư tưởng cởi mở, thông thoáng nhưng khi ban hành các nghị định, thông tư thì lại thắt chặt lại. Thậm chí, có những luật có các văn bản thực thi khác với tinh thần của chúng. Thứ ba, tình trạng nợ đọng văn bản, mặc dù có xu hướng giảm, nhưng chưa bền vững. Tính đến ngày 15/10/2013, đối với 37 luật, pháp lệnh đã có hiệu lực, Chính phủ, Thủ tướng, thủ trưởng các cơ quan ngang Bộ đã ban hành 98/200 văn bản (49%) quy định chi tiết hướng dẫn 148/280 nội dung được giao.
Một trong những chỉ tiêu quan trọng để đánh giá chất lượng môi trường thể chế là tính tuân thủ pháp luật (thông qua chỉ số chất lượng các thể chế pháp quyền). Ở nước ta hiện nay, tồn tại hai nhân tố gây khó khăn cho việc tuân thủ pháp luật. Trước hết, vấn đề thực thi pháp luật của các cơ quan nhà nước gặp phải các thách thức từ phía những người thực thi. Tình trạng nhận quà diễn ra tại nhiều địa phương trong giải quyết các thủ tục hành chính. Còn từ phía các cơ quan công quyền vẫn còn tình trạng tham nhũng. 
Nhận thức về các rào cản thể chế đối với phát triển là một chuyện, còn phá bỏ các rào cản đó để thay đổi quỹ đạo phát triển lại là một vấn đề hoàn toàn khác. Theo quan điểm chúng tôi, nguyên nhân sâu xa của bẫy thể chế nằm trong các yếu tố văn hóa xã hội của dân tộc Việt Nam. Theo Hofstede, tồn tại các cặp đặc tính văn hóa xã hội của các dân tộc: khoảng cách quyền lực lớn - nhỏ (quan hệ xã hội đối với vấn đề bất bình đẳng giữa người và người); tính cá nhân - tính tập thể (mức độ hòa nhập của các cá nhân vào các nhóm thứ nhất); nam tính - nữ tính (định hướng xã hội đối với các giá trị của nam hay nữ); tính né tránh sự vô định cao - thấp (mức độ lo âu của xã hội đối với tương lai vô định); định hướng dài hạn - ngắn hạn (định hướng xã hội về phía tương lai hoặc hiện tại và quá khứ). Tất cả nền văn hóa ngôn ngữ Anh đều có các chỉ số cao về tính cá nhân, tính nam, còn chỉ số thấp về khoảng cách quyền lực, tính lo sợ sự vô định. Nhìn chung, dân tộc Việt Nam có các định hướng giá trị khác với các nền văn hóa ngôn ngữ Anh. Chính các giá trị văn hóa truyền thống này làm ảnh hưởng quá trình hiện đại hóa của nước ta.
Như vậy, để cải cách triệt để môi trường thể chế thì cần tiến hành không chỉ các biện pháp đổi mới thể chế cụ thể mà còn các giải pháp dài hạn nhằm thay đổi các giá trị văn hóa “thâm căn cố đế” đang tạo khó khăn cho sự phát triển của đất nước.
 
4. Giải pháp cải cách thể chế
Cần nhận thức rằng cải cách thể chế là nhiệm vụ bức bách và nhiệm vụ đó cần được thực hiện quyết liệt, đồng bộ. Thay đổi các quy tắc chính thức có thể được tiến hành trong ngắn hạn bằng con đường cưỡng chế thông qua sử dụng các công cụ pháp luật của nhà nước. Tuy nhiên, các quy tắc phi chính thức (trước hết, các yếu tố văn hóa xã hội) chỉ chuyển đổi dần dần trong quá trình phát triển, trong giáo dục. Trước mắt, cần có quyết tâm chính trị thực hiện các cải cách thể chế cần thiết. Hai là, phải có chiến lược và kế hoạch có tầm nhìn dài hạn, không bị tư duy nhiệm kỳ, tư tưởng cục bộ, bệnh thành tích, chủ quan duy ý chí, lợi ích nhóm chi phối. Ba là, đảm bảo tính nhất quán và kiên định trong cải cách thể chế để giữ vững niềm tin của nhân dân.
Ðối với hệ thống pháp luật: Pháp luật phải thay đổi bắt kịp với đòi hỏi của cuộc sống và không thể xây dựng một mô hình lý tưởng có thể điều chỉnh tất cả các lĩnh vực mà pháp luật phải giải quyết từng vấn đề cụ thể. Chúng ta xây dựng đầy đủ và hoàn chỉnh các văn bản pháp luật bao phủ các lĩnh vực then chốt của nền kinh tế thị trường, đặc biệt, các vấn đề hệ trọng về mối quan hệ giữa kiến trúc thượng tầng và cơ sở hạ tầng như nội dung lãnh đạo của Ðảng, mối quan hệ của Ðảng với Quốc hội, Chính phủ, các cơ quan tư pháp; nhà nước pháp quyền; kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa cần được thể chế hóa. Nhà nước pháp quyền điều tiết các quan hệ kinh tế bằng hệ thống pháp luật đầy đủ và có chế tài đủ mạnh để duy trì các hoạt động kinh tế trong khuôn khổ pháp luật. Dân chủ và nhà nước pháp quyền là hai thể chế chính trị song hành, nhưng muốn dân chủ phát huy hiệu quả sức mạnh của nó, cần một nhà nước pháp quyền đủ mạnh. Ðể củng cố tính tuân thủ pháp luật, cần thực hiện tư pháp độc lập, đặc biệt công tác xét xử phải tuân thủ nguyên tắc độc lập, không để bất kỳ cá nhân hay tổ chức nào đứng bên ngoài pháp luật.
Hệ thống pháp luật điều chỉnh được các quan hệ xã hội cần thiết. Muốn vậy, cần tăng cường cơ chế tiếp cận thông tin, cơ chế tham vấn, đưa các ý tưởng của dân, doanh nghiệp, các tổ chức xã hội vào luật pháp. Ðể đảm bảo chất lượng các quy định pháp luật, phải không ngừng hoàn chỉnh hệ thống văn bản pháp luật; loại bỏ các quy định không còn tương thích, cần thường xuyên rà soát, cắt bỏ các thủ tục hành chính, quy định pháp luật không còn phù hợp, đồng thời cần sàng lọc kỹ lưỡng các văn bản mới hoặc được chỉnh sửa. Việc kiểm soát chất lượng các văn bản pháp luật nên được giao cho một cơ quan thống nhất chịu trách nhiệm tối cao.
Ðể kiểm soát tham nhũng có hiệu quả, một biện pháp quan trọng là phải công khai, minh bạch các thông tin về hoạt động của doanh nghiệp, người dân để ngăn ngừa tham nhũng từ phía người thực thi pháp luật. Ðồng thời, minh bạch hóa thông tin về cơ chế hoạt động của bộ máy chính quyền, các thủ tục hành chính phải công khai, rõ ràng, dễ hiểu, dễ thực hiện. Khuyến khích người dân thực hiện quyền giám sát để góp phần phòng ngừa và đấu tranh hiệu quả với tham nhũng.
Ðối với việc thực hiện phân cấp: cần nâng cao năng lực quản lý tập trung về các vấn đề chiến lược vĩ mô ở cấp trung ương và cấp vùng, còn mặt khác, tạo điều kiện cho từng địa phương phát triển những mặt khác biệt của mình nhưng đồng thời ngăn ngừa tình trạng phân tán, khắc phục việc phân cấp cho một số địa phương quyền hạn quá rộng về đầu tư và đất đai không gắn liền với trách nhiệm giải trình.
Cốt lõi là năng lực điều hành của cán bộ. Ðể thiết lập một nền hành chính tốt, một hệ thống pháp luật chất lượng cao, cần có một đội ngũ cán bộ với năng lực điều hành tốt. Ðội ngũ cán bộ đó phải thực sự của dân, từ bỏ tư tưởng “làm quan”, “quan là cha mẹ của dân”.
Tuy nhiên, để hình thành một đội ngũ cán bộ có chất lượng, phải thực hiện đổi mới công tác tuyển dụng và sử dụng nguồn nhân lực công. Ðối với công tác cán bộ, cần tuân thủ nguyên tắc tuyển dụng và bổ nhiệm cán bộ theo trình độ, kỹ năng, phẩm chất chính trị và đạo đức; cần minh bạch, công khai quy trình tuyển dụng cán bộ, tiêu chuẩn cho từng chức vụ.
Nhiệm vụ cần bắt đầu thực hiện ngay từ bây giờ và lâu dài, thậm chí có thể qua vài thế hệ là giáo dục những đặc tính văn hóa xã hội tiến bộ cho học sinh, sinh viên để khắc phục “tính trì trệ” của các đặc tính văn hóa xã hội truyền thống của người Việt Nam như khoảng cách quyền lực lớn, tính tập thể, tính nữ, tính né tránh sự vô định và thông qua đó, tạo động lực mạnh và không thể bị đảo ngược để thay đổi quỹ đạo phát triển của đất nước. Ðảng, Nhà nước đã đề ra chủ trương cải cách căn bản và toàn diện nền giáo dục nước nhà. Song song với đó, các trường đại học Việt Nam đang nỗ lực xây dựng các chương trình đào tạo hiện đại. Tuy nhiên, vấn đề quan trọng sống còn hiện nay là chúng ta cần xác định được mục tiêu giáo dục cốt lõi, tức là phải kỳ vọng đào tạo hình mẫu người Việt Nam nào trong tương lai, hình mẫu đó có những phẩm chất gì và có vai trò như thế nào đối với công cuộc công nghiệp hóa theo hướng hiện đại, gắn với nền kinh tế tri thức? Vậy thì, cần đánh giá và xây dựng lại hệ giá trị của dân tộc trên cơ sở vừa giữ gìn bản sắc dân tộc, vừa tiếp thu những tính cách tiến bộ của nhân loại.
Tóm lại, cải cách thể chế là một trong những nhiệm vụ quan trọng trong giai đoạn hiện nay để nâng cao năng lực cạnh tranh nhằm đưa nền kinh tế Việt Nam vào quỹ đạo phát triển bền vững.
 
TÀI LIỆU THAM KHẢO:
Acemoglu D., Johnson S., Robinson J.A., Yared P. (2009) Reevaluating the Modernization Hypothesis, J. of Monetary Economics, vol. 56, N 8.
David P.A. (1985) Clio and the Economics of QWERTY, The American Economic Rev, vol. 75, N 2.
Hofstede G.H. (2001) Culture’s Consequences: Comparing Values, Behaviors, Institutions and Organizations across Nations, Sage.
Inglehart R. (1977) The Silent Revolution. Princeton.
Maddison A. (2007) The World Economy, Vol. 1: A Millennial Perspective; Vol. 2: Historical Statistics, New Dehli.
Nguyễn Ngọc Thạch (2015) Ði tìm nguồn gốc của phát triển - Bẫy tăng trưởng Malthus, Path Dependence hay hệ giá trị Hofstede? Tạp chí Nghiên cứu kinh tế, N 11(450).
Nort D., Uollis D., Vajngast B. (2011) Nasilie i social’nye porjadki.Konceptual’nye ramki dlja interpretacii pis’mennoj istorii chelovechestva, Per. s angl, M.
 Persson T., Tabellini G. (2007) The Growth Effect of Democracy: Is It Heterogenous and How Can It Be Estimated?, CESifo Working
Paper Series, N 2016.
Polterovich V.M., Popov V.V. (2007)
Demokratizacija i jekonomicheskij rost, Obshche- stvennye nauki i sovremennost’, N 2.
WEF (các năm) Global Competitiveness
Report.
http://info.worldbank.org/governance/wgi/index.aspx#home
 
(Tạp chí Ngân hàng số 7, tháng 4/2016)
Bình luận Ý kiến của bạn sẽ được biên tập trước khi đăng. Xin vui lòng gõ tiếng Việt có dấu
Tâm lý nhà đầu tư trên thị trường tài chính Việt Nam

Thị trường tiền tệ

Trên thị trường, tâm lý các nhà đầu tư luôn chi phối rất lớn đến mức độ ổn định của thị trường, đặc biệt là đối với thị trường tài chính, sự tác động của yếu tố tâm lý luôn diễn biến rất phức tạp, khiến thị trường tài chính luôn tiềm ẩn yếu tố bất ổn định rất cao