Tác động của xu hướng phát triển tiền kỹ thuật số của Ngân hàng Trung ương các nước đến hệ thống tài chính Việt Nam
20/10/2021 10.193 lượt xem
Khi các đồng tiền kỹ thuật số như Bitcoin, Libra, JPM Coin, SBI Coin được sử dụng trong trao đổi mua bán hàng hóa, dịch vụ trong thanh toán chuyển tiền toàn cầu, đủ lớn tạo ra hệ thống ngân hàng ngầm (trên mạng), chúng sẽ đe dọa hệ thống thanh toán quốc gia hay chuyển tiền quốc tế; lấn át việc kiểm soát tiền trong lưu thông của các NHTW...
 
 
Ảnh minh họa: Nguồn Internet

Tiền kỹ thuật số của Ngân hàng Trung ương (Central Bank Digital Currency - CBDC) là một thuật ngữ chưa được định nghĩa một cách thống nhất1 do đặc tính, phương thức phát hành không có sự thống nhất giữa các quốc gia. Cho đến nay, cơ bản CBDC được hiểu là dạng số của tiền pháp định do Ngân hàng Trung ương (NHTW) hoặc cơ quan tiền tệ của một quốc gia, vùng lãnh thổ có chủ quyền phát hành đóng vai trò là thước đo giá trị, phương tiện trao đổi và phương tiện tích trữ của cải.

1. Lý do các quốc gia phát hành CBDC

Có nhiều lý do dẫn đến xu hướng phát triển CBDC các nước, tuy nhiên có ba lý do chủ yếu sau:

Thứ nhất, sự phát triển mạnh mẽ tiền kỹ thuật số của các chủ thể không phải là NHTW phát hành đe dọa trực tiếp chủ quyền tiền tệ và vai trò quản lý điều tiết thị trường tài chính của quốc gia. Cho đến nay, chức năng phát hành tiền tệ được mặc định là độc quyền của NHTW (hoặc cơ quan có thẩm quyền tương đương của một quốc gia, vùng lãnh thổ). Việc phát hành và quản lý lưu thông tiền tệ được coi là một bộ phận của chủ quyền quốc gia bên cạnh chủ quyền về lãnh thổ, đối ngoại…

Tuy nhiên, sự phát triển đáng kinh ngạc của công nghệ tài chính đã dẫn đến sự ra đời và phát triển nhanh chóng của một loại hình sản phẩm tài chính kỹ thuật số được gọi là tiền kỹ thuật số do các chủ thể phi Nhà nước phát hành. Các dạng tiền kỹ thuật số này có đủ ba chức năng của tiền là thước đo giá trị, là phương tiện thanh toán và phương tiện tích trữ của cải. Với đặc điểm ưu việt của phương tiện kỹ thuật số được tạo ra bởi các thuật toán lập trình, người nắm giữ có quyền ngang hàng, mật mã giúp cho bất cứ chủ thể nắm giữ tiền kỹ thuật số có thể trao đổi bình đẳng không cần phê duyệt, cho phép và ẩn danh.

Tiền kỹ thuật số mặc dù đang ở giai đoạn đầu nhưng phát triển tốc độ đáng kinh ngạc và thể hiện một tham vọng lớn. Ví dụ thứ nhất là đồng Bitcoin, từ giao dịch 10 Bitcoin đầu tiên được cha đẻ của Bitcoin là Satoshi Nakamoto gửi cho nhà mật mã học Hal Finney vào ngày 12/01/2009, giá trị ấn định trên sàn giao dịch khởi điểm 1 Bitcoin = 0,00076 USD (ngày 05/10/2009), đến ngày 19/02/2021, tổng giá trị vốn hóa của Bitcoin đã vượt 1.000 tỷ USD và giá giao dịch Bitcoin tăng kỷ lục quanh mức 56.000 USD/Bitcoin (theo Reuters). Tháng 8/2015, Barclays trở thành ngân hàng lớn đầu tiên tại Anh chấp nhận Bitcoin, ngày 14/4/2021, Coinbase - sàn giao dịch tiền điện tử lớn nhất ở Hoa Kỳ, trở thành công ty đại chúng với mã COIN trên sàn giao dịch Nasdaq. Bitcoin ngày càng được chấp nhận và sử dụng rộng rãi ngay cả với nhiều nhà đầu tư và doanh nghiệp lớn như Tesla, Mastercard Inc, BNY Mellon… Ngày 07/9/2021, El Salvador trở thành quốc gia đầu tiên trên thế giới công nhận Bitcoin là một đồng tiền hợp pháp. Ví dụ thứ hai là dự án phát hành đồng Libra của Facebook: Với việc neo giữ với rổ tiền tệ mạnh và trái phiếu chính phủ của một số quốc gia trên thế giới theo tỷ lệ nhất định và với lợi thế người dùng sẵn có của Facebook là khoảng 2,4 tỷ người, nếu dự án thành công, đồng Libra tham vọng có thể trở thành đồng tiền chuyển đổi chung của thế giới, có tính ổn định cao và đe dọa vị thế của những đồng tiền truyền thống hùng mạnh nhất như USD, Euro...

Khi các đồng tiền kỹ thuật số như Bitcoin, Libra, JPM Coin, SBI Coin được sử dụng trong trao đổi mua bán hàng hóa, dịch vụ trong thanh toán chuyển tiền toàn cầu, đủ lớn tạo ra hệ thống ngân hàng ngầm (trên mạng), chúng sẽ đe dọa hệ thống thanh toán quốc gia hay chuyển tiền quốc tế; lấn át việc kiểm soát tiền trong lưu thông của các NHTW. Ẩn danh và sử dụng mật mã, tiền kỹ thuật số có thể chuyển đi bất kỳ đâu khiến cho việc kiểm soát tiền tệ ra/vào quốc gia trở nên rất khó khăn, ảnh hưởng đến thị trường ngoại tệ, điều hành tỷ giá, kiểm soát rửa tiền, tham nhũng và tài trợ khủng bố2. Đây thực sự là thách thức cho chính sách tiền tệ độc lập và an ninh tiền tệ - tài chính của các quốc gia. Điều này đặc biệt nghiêm trọng với các quốc gia đang phát triển khi niềm tin của công chúng vào đồng nội tệ không cao và dễ bị bào mòn trước các biến cố như lạm phát, do vậy dễ chuyển sang nắm giữ tiền kỹ thuật số có chất lượng. Đây là lý do tại sao nhiều quốc gia, kể cả các quốc gia phát triển như Mỹ, Pháp phản đối quyết liệt dự án đồng Libra của Facebook. Trung Quốc cũng siết chặt quy định về tiền ảo, đặc biệt là Bitcoin, coi đây là mối đe dọa với đồng Nhân dân tệ. Theo hãng tin Reuters ngày 24/9, 10 cơ quan của Chính phủ Trung Quốc, bao gồm NHTW cùng các cơ quan quản lý ngân hàng, chứng khoán và ngoại hối ra tuyên bố chung về việc hợp tác chặt chẽ để siết chặt các hoạt động liên quan đến tiền điện tử. NHTW Trung Quốc cho biết, tiền điện tử không được lưu thông trên thị trường như tiền tệ truyền thống và cấm các sàn giao dịch ở nước ngoài cung cấp dịch vụ cho các nhà đầu tư ở Trung Quốc đại lục thông qua Internet. NHTW Trung Quốc cũng cấm các tổ chức tài chính, công ty thanh toán và công ty Internet tạo điều kiện cho các giao dịch tiền điện tử.

Xu thế sử dụng tiền kỹ thuật số là tất yếu và ngày càng phổ biến, điều này khiến các quốc gia muốn giữ vững chủ quyền tiền tệ thì NHTW một mặt phải siết chặt quy định sử dụng tiền kỹ thuật số của khu vực tư nhân, mặt khác phải tạo ra một đồng tiền kỹ thuật số mạnh đối trọng và lấn át được các đồng tiền kỹ thuật số này. Đây cũng là một lý do khiến Trung Quốc thúc đẩy NHTW Trung Quốc triển khai đồng tiền số của mình.

Thứ hai, xu hướng thanh toán không dùng tiền mặt. Với sự phát triển và ưu thế của công nghệ, máy tính, các phương tiện di động thông minh và lợi thế nhanh, rẻ, dễ dàng, vượt qua giới hạn của không gian và thời gian, xu hướng thanh toán không dùng tiền mặt (TTKDTM) ngày càng trở nên phổ biến và tất yếu trên toàn cầu. Tại các quốc gia Bắc Âu, nhiều doanh nghiệp, nhà hàng và quán rượu, thậm chí các ngân hàng nhỏ, đã ngừng tiếp nhận tiền mặt và các quốc gia này có kế hoạch không còn sử dụng tiền mặt vào năm 2023. NHTW Thụy Điển cho biết, chỉ còn chưa đầy 10% người dân dùng tiền mặt trong năm 2020, so với mức 40% trước đó 10 năm.

Tại châu Á, cùng với sự bùng nổ của thương mại điện tử, Trung Quốc đã dẫn đầu thế giới trong lĩnh vực thanh toán trực tuyến và đang trên đường trở thành một xã hội không tiền mặt. Hơn 600 triệu người Trung Quốc đã sử dụng các công cụ Alipay của Alibaba và WeChat Pay của Tencent để thanh toán hầu hết các giao dịch mua sắm. Nhiều ngành và lĩnh vực trên khắp Trung Quốc cũng đã bắt đầu áp dụng công nghệ Blockchain để thanh toán hóa đơn. Những nhà cung cấp dịch vụ thứ ba như Alipay, thậm chí đe dọa những nỗ lực của các ngân hàng và các nhà cung cấp dịch vụ mạng khi xây dựng mạng lưới riêng của mình kể cả ở nước ngoài, với 110.000 cửa hàng chấp nhận Alipay (Louise, 2017). Tại Trung Quốc, phần lớn doanh nghiệp cho phép khách hàng dùng ứng dụng quét mã QR để thanh toán mua hàng. Điều này phổ biến đến mức Chính phủ Trung Quốc phải xử phạt những cửa hàng từ chối thanh toán bằng tiền mặt và nhắc nhở công chúng nhớ rằng, đồng Nhân dân tệ mới là đồng tiền chính thức của Trung Quốc. Hàn Quốc cũng đang dần theo kịp Trung Quốc về thanh toán không tiền mặt. Đây là một trong những nước có nền tảng chuyển khoản tiền tốt nhất thế giới và tiền mặt chỉ chiếm 20% giao dịch trong năm 2018, số người không mang theo tiền cũng ngày càng tăng cao.

Như vậy, hệ thống thanh toán trực tuyến thế giới có xu hướng ngày càng phụ thuộc vào các chủ thể cung cấp giải pháp thanh toán ngoài ngân hàng hơn là hệ thống ngân hàng và NHTW. Điều này làm suy yếu vai trò của hệ thống ngân hàng, đặc biệt là NHTW trong lĩnh vực thanh toán. CBDC là phương tiện và giải pháp để NHTW củng cố và hiện diện mạnh mẽ hơn trong lĩnh vực thanh toán trực tuyến và làm giảm các nguy cơ đối với sự ổn định tài chính gây ra bởi sự phụ thuộc vào các hệ thống thanh toán phi ngân hàng.

Thứ ba, những lợi ích kỳ vọng và sự cạnh tranh ảnh hưởng từ CBDC. Đến nay, CBDC trên thế giới vẫn đang trong giai đoạn nghiên cứu, thử nghiệm nên những lợi ích và cả rủi ro3 từ phát hành CBDC vẫn chưa thực sự rõ ràng. Quan điểm ủng hộ cho rằng, CBDC mang lại các lợi ích: (1) Đối với kinh tế vĩ mô, CBDC tạo thuận lợi và thúc đẩy quá trình tái phân bổ nguồn lực, giúp các chính phủ thực hiện các chính sách và quản lý nền kinh tế dễ dàng hơn, đặc biệt trong các trường hợp khẩn cấp như đại dịch Covid-19 qua việc có thể tính toán chính xác hơn các chỉ tiêu kinh tế vĩ mô như tỷ lệ lạm phát, giảm chi phí giao dịch của nền kinh tế; hỗ trợ tích cực tăng trưởng kinh tế thông qua thúc đẩy kinh tế số, thương mại điện tử, TTKDTM, các mô hình kinh doanh trên nền tảng số, giao dịch số; (2) Đối với hệ thống tài chính, CBDC giúp cắt giảm chi phí in ấn, vận chuyển và bảo quản tiền tệ; kích thích cạnh tranh sự đổi mới, mở đường cho các hoạt động thanh toán linh hoạt, hiệu quả, toàn diện và sáng tạo hơn, giúp cải thiện tài chính toàn diện ở các quốc gia (Dyson và Hodgson, 2016 và Ricks và ctg, 2018); nâng cao khả năng phòng, chống rửa tiền, tài trợ khủng bố và trốn thuế thông qua hoạt động của trung tâm dữ liệu lớn, giảm bớt việc cung cấp thông tin, báo cáo giữa các tổ chức tín dụng và nhà quản lý; (3) Đối với chính sách tệ, CBDC có thể giúp NHTW tăng hiệu quả của chính sách tiền tệ qua việc có thể thực hiện chính sách lãi suất dương và âm, khả năng truyền tải chính sách lãi suất của NHTW thông qua CBDC đến thị trường tiền tệ và lãi suất huy động, thu thập dữ liệu thời gian thực như việc phát hành, ghi sổ và lưu hành của tiền...

Nhưng có lẽ động lực và tham vọng lớn nhất để các quốc gia, đặc biệt là các quốc gia lớn khi phát hành CBDC mà các NHTW đang nhắm đến là nhằm tranh giành sức ảnh hưởng của đồng tiền quốc gia trên phạm vi toàn cầu. Việc các nước có đồng tiền mạnh, nền tảng công nghệ hiện đại và đầu tư bài bản, nếu thành công, CBDC của các quốc gia này sẽ là vòi bạch tuộc vươn ra can thiệp và chi phối hệ thống tài chính toàn cầu. Trên không gian số, chủ quyền tiền tệ của các quốc gia có đồng tiền yếu sẽ bị đe dọa nghiêm trọng, việc chủ động quản lý và giám sát thị trường tài chính sẽ trở nên rất khó khăn do các giao dịch, đặc biệt là các giao dịch xuyên biên giới được thực hiện trong tích tắc, ẩn danh và không hoặc để lại ít dấu vết.  

CBDC còn là một vũ khí mới, một chiến thuật mới của “cuộc chiến tiền tệ” giữa các siêu cường trên mặt trận TTKDTM (mặt trận chính trong tương lai gần). Từ lâu, Trung Quốc đã không giấu giếm tham vọng quốc tế hóa đồng Nhân dân tệ và thách thức vị trí thống trị của đồng Đô la Mỹ. Theo giới phân tích, nếu Trung Quốc phát triển thành công một loại tiền kỹ thuật số mạnh, đồng Đô la Mỹ sẽ mất dần ảnh hưởng toàn cầu, do CDBC của Trung Quốc có thể thu hút các quốc gia mới nổi nắm giữ, những đối tác thương mại và con nợ đang phụ thuộc vào Bắc Kinh. Trong một thông báo vào tháng 9/2020, NHTW Trung Quốc cho biết, Trung Quốc cần trở thành nước đầu tiên phát hành tiền ảo nhằm thúc đẩy quốc tế hóa đồng Nhân dân tệ và giảm phụ thuộc vào hệ thống thanh toán đồng Đô la Mỹ toàn cầu.

2. Tác động tiềm tàng của việc các quốc gia phát hành CBDC đến Việt Nam

Việt Nam là một quốc gia đang phát triển, đồng tiền chưa mạnh, nền kinh tế và thị trường tài chính có độ mở cao. Trong tương lai, nếu CBDC của các quốc gia khác, đặc biệt là của Trung Quốc, Mỹ phát hành và phổ biến sẽ tác động mạnh mẽ đến nền kinh tế Việt Nam nói chung và hệ thống tài chính nói riêng. Bên cạnh các tác động tích cực4, các thách thức và rủi ro dưới đây cần được xem xét thấu đáo và cẩn trọng:

Thứ nhất, thách thức với kinh tế vĩ mô và hệ thống tài chính: Các dòng vốn và dòng tiền đầu cơ bằng CBDC nước ngoài có thể bơm vào, rút ra đột ngột kể cả cố ý hay vô ý gây ra các cú sốc cho nền kinh tế, đặc biệt là một nền kinh tế có độ mở cao, phụ thuộc nhiều vào xuất nhập khẩu như Việt Nam. CBDC mạnh của nước ngoài có thể làm suy yếu và lấn át đồng Việt Nam, dẫn đến tình trạng tương tự như đô la hóa nền kinh tế và đe dọa chủ quyền tiền tệ. Cũng như tiền kỹ thuật số tư nhân, CBDC của quốc gia khác tạo điều kiện cho các loại tội phạm công nghệ cao, rửa tiền, trốn thuế, tham nhũng phát triển.

Thứ hai, thách thức với việc thực thi chính sách tiền tệ và vị thế của NHTW: Việc các dòng tiền và giao dịch nằm ngoài tầm kiểm soát của cơ quan quản lý trong nước khiến cho việc thống kê và đo lường tổng lượng tiền, xác định các mục tiêu trở nên rất khó khăn. Điều này tác động tiêu cực đến quyền chủ động thực thi chính sách tiền tệ của NHTW. Đơn cử vụ việc sử dụng mạng Internet (công nghệ kết nối chưa phải tiền kỹ thuật số) của công dân Trung Quốc sang du lịch Việt Nam sử dụng POS của doanh nghiệp Trung Quốc đặt chui ở Việt Nam chuyển thẳng tiền về Trung Quốc, đã khiến cho các cơ quan quản lý trong nhiều trường hợp không thể xử lý.

3. Việt Nam nên định hướng chính sách và hành động như thế nào trước tác động tiềm tàng của việc các quốc gia phát triển CBDC?

Tác động của CBDC nước ngoài với Việt Nam hiện nay là chưa lớn do hầu hết các quốc gia mới trong giai đoạn nghiên cứu phát triển. Tuy nhiên, Việt Nam không thể đứng ngoài xu thế phát triển tất yếu của CBDC trên toàn cầu. Trước mắt, Việt Nam cần quan sát, nghiên cứu cẩn trọng xu hướng và sự phát triển của CBDC thế giới, từ đó có thể dự liệu cơ chế, giải pháp phù hợp để ứng phó và thích ứng với xu thế phát triển và ảnh hưởng của CBDC các nước, đặc biệt là các nước lớn trong tương lai.  

Thứ nhất, Việt Nam cần nghiên cứu dự liệu một khuôn khổ pháp lý và cơ chế pháp lý phù hợp để có thể nắm bắt, quản lý và kiểm tra, giám sát việc lưu thông CBDC của nước ngoài ra vào Việt Nam trong tương lai. Trước tiên, cần phải tiếp tục nghiên cứu, rà soát các quy định của các điều ước quốc tế, điều lệ của các tổ chức tài chính quốc tế để hiểu rõ, đầy đủ các cam kết cũng như quyền, nghĩa vụ thành viên của mình, xây dựng các cơ chế, hàng rào bảo vệ chủ quyền tiền tệ phù hợp mà không vi phạm các cam kết quốc tế. Ví dụ, trong một số điều ước quốc tế, Việt Nam bảo lưu được các quyền, kể cả hạn chế hoặc không cam kết một số nội dung liên quan đến mục tiêu chính sách công để đảm bảo phát triển thị trường dịch vụ trong nước.

Thứ hai, củng cố và nâng cao sức mạnh của hệ thống thanh toán chính thức (do Nhà nước quản lý và giữ vai trò chủ đạo) hiện có. Hiện nay, TTKDTM ở Việt Nam chưa phát triển như kỳ vọng, tỷ lệ giao dịch sử dụng tiền mặt còn cao5; hạ tầng và trang thiết bị kỹ thuật phục vụ cho hoạt động TTKDTM chưa đồng bộ, hiệu quả; thiếu đồng bộ giữa các trung gian thanh toán và các đơn vị cung ứng hàng hóa, dịch vụ; các hình thức thanh toán mới như QR Code, sinh trắc học... đang ở trong giai đoạn đầu phát triển. Do đó, cần: (1) Tiếp tục đẩy mạnh hoạt động truyền thông đồng bộ, hiệu quả trong việc phổ biến kiến thức, nâng cao nhận thức, thay đổi hành vi và cách thức thanh toán tiêu dùng của người dân, qua đó nâng cao khả năng tiếp cận các sản phẩm, dịch vụ ngân hàng cho người dân, khuyến khích sử dụng các phương thức TTKDTM chính thống; (2) Rà soát, sửa đổi, bổ sung, hoàn thiện hành lang pháp lý cho hoạt động TTKDTM, thanh toán điện tử, đáp ứng yêu cầu phát triển các mô hình, sản phẩm, dịch vụ thanh toán mới, ban hành các cơ chế, chính sách thích hợp về phí dịch vụ thanh toán để khuyến khích tổ chức, cá nhân thực hiện TTKDTM; (3) Nâng cấp hạ tầng thanh toán quốc gia, nâng cao chất lượng của hoạt động thanh toán điện tử, áp dụng các công nghệ, phương thức thanh toán hiện đại nhằm tăng mức độ tiện lợi, giảm chi phí sử dụng và rủi ro, đảm bảo an toàn về tài sản và thông tin của người sử dụng. Tăng cường năng lực của cơ quan thanh tra, kiểm tra, giám sát, phòng, chống rửa tiền, tài trợ khủng bố trong hoạt động TTKDTM, thanh toán điện tử, trung gian thanh toán... Một hệ thống TTKDTM chính thống do Nhà nước điều hành đảm bảo hoạt động an toàn, hiệu quả, an ninh và tiện lợi được sử dụng phổ biến rộng rãi, trở thành thói quen của người dân trong nước sẽ là đối trọng và cũng là hàng rào phòng vệ hữu hiệu trước nguy cơ bành trướng của tiền kỹ thuật số nước ngoài, trong đó có CBDC.

Theo quan điểm của tác giả, việc phát hành CBDC Việt Nam, trong ngắn và trung hạn là chưa phù hợp do chúng ta còn nhiều hạn chế về hạ tầng công nghệ, năng lực phát triển vận hành và quản lý, trong khi thực tiễn và kinh nghiệm quốc tế cho thấy lợi ích của CBDC vẫn chưa thực sự rõ ràng. Tuy nhiên, trong dài hạn cùng với kinh nghiệm thành công và thất bại của việc phát triển CDBC quốc tế, Việt Nam sẽ học hỏi để phát triển CBDC phù hợp.

Tài liệu tham khảo:

1. https://thitruongtaichinhtiente.vn/bitcoin-libra-tien-thuat-toan-thach-thuc-tu-duy-chinh-sach-28453.html
2. https://thitruongtaichinhtiente.vn/kinh-nghiem-trung-quoc-ve-mo-rong-thanh-toan-khong-dung-tien-mat-22804.html
3. https://marginatm.com/cbdc-la-gi
4. https://vi.wikipedia.org/wiki/Bitcoin
5. BIS: Rise of the central bank (2020).
6. IMF: A Survey of Research on Retail Central Bank Digital Currency (June 26, 2020).
7. Deloitte: Are Central Bank Digital Currencies (CBDCs) the money of tomorrow? (2020).
8. ADB: Central Bank Digital Currencies: A Potential Response to the Financial Inclusion Challenges (2021).

 
 

1IMF định nghĩa CBDC là một dạng mới của tiền, được NHTW phát hành dưới dạng số hóa, dự kiến có vai trò như tiền pháp định hoặc CBDC là dạng số của một đồng tiền của quốc gia có chủ quyền được phát hành và là khoản nợ của NHTW quốc gia đó.  Diễn đàn Kinh tế thế giới định nghĩa CBDC là một hình thức mới của tiền có chủ quyền được số hóa, thường được coi là tương đương với tiền mặt vật chất hoặc các khoản dự trữ được giữ tại NHTW; đó là tiền của NHTW, hoặc một thành phần của cơ sở tiền tệ và là khoản nợ trực tiếp của NHTW. NHTW Anh định nghĩa CBDC là dạng điện tử của tiền NHTW mà có thể được sử dụng bởi hộ gia đình và doanh nghiệp để thanh toán và cất trữ giá trị.

2Theo Công ty phần mềm an ninh mạng (McAfee) và Trung tâm Nghiên cứu Chiến lược và Quốc tế (CSIS), tội phạm mạng là nguyên nhân khiến nền kinh tế toàn cầu thiệt hại 1,2% GDP toàn cầu (hơn 1.000 tỷ USD năm 2020), tăng 50% so với năm 2018 và nhiều thiệt hại khác không thể tính bằng tiền. Đáng chú ý, xu hướng tội phạm tài chính gia tăng mạnh trong bối cảnh dịch COVID-19. Theo báo cáo của Công ty tư vấn EMR (2020), thị trường cung cấp giải pháp quản lý, kiểm soát tội phạm tài chính toàn cầu có giá trị khoảng 1.100 tỷ USD và dự báo tăng khoảng 5,7%/năm giai đoạn 2020-2025.
 
3Ví dụ, sự lưu thông ngày càng tăng của các loại tiền KTS kỹ thuật số đã tạo ra một số rủi ro về kinh tế và an ninh quốc gia, chẳng hạn như rò rỉ dữ liệu thanh toán cho các quốc gia khác, mở cửa cho các hoạt động bất hợp pháp như rửa tiền và việc sử dụng tiền điện tử để tài trợ cho khủng bố, buộc các NHTW phải gia tăng nguồn lực để giám sát.
 
4Như tạo thuận lợi cho hoạt động giao thương, đầu tư và thanh toán với quốc tế, thúc đẩy và hỗ trợ kinh tế số, thương mại điện tử, thanh toán không dùng tiền mặtTTKDTM, các mô hình kinh doanh trên nền tảng số, giao dịch số.

5Theo Tập đoàn Dữ liệu quốc tế (IDG) năm 2019, gần 40% số dân Việt Nam có tài khoản ngân hàng nhưng vẫn còn 80% chi tiêu hằng ngày sử dụng tiền mặt, 98% sử dụng tiền mặt khi thanh toán các mặt hàng dưới 100 nghìn đồng và có tới gần 85% giao dịch tại ATM là giao dịch rút tiền.    

Chu Tuệ Anh (Hà Nội) 
 

Bình luận Ý kiến của bạn sẽ được kiểm duyệt trước khi đăng. Vui lòng gõ tiếng Việt có dấu
Đóng lại ok
Bình luận của bạn chờ kiểm duyệt từ Ban biên tập
Kinh nghiệm quản lý chuyển đổi số ngành Ngân hàng tại một số quốc gia châu Á và hàm ý chính sách cho Việt Nam
Kinh nghiệm quản lý chuyển đổi số ngành Ngân hàng tại một số quốc gia châu Á và hàm ý chính sách cho Việt Nam
15/08/2022 128 lượt xem
Tóm tắt: Bài viết nghiên cứu kinh nghiệm quản lý chuyển đổi số ngành tài chính, ngân hàng của bốn nền kinh tế ở châu Á, bao gồm: Nhật Bản, Hàn Quốc, Singapore và Trung Quốc. Trên cơ sở những kinh nghiệm cùng với một số vấn đề tồn tại trong giai đoạn đầu số hóa ngành Ngân hàng tại Việt Nam, bài viết đưa ra hàm ý chính sách cho Việt Nam trong việc thúc đẩy và phát triển chuyển đổi số ngành Ngân hàng.
Phát triển ngân hàng kỹ thuật số: Những bài học kinh nghiệm từ các ngân hàng trên thế giới
Phát triển ngân hàng kỹ thuật số: Những bài học kinh nghiệm từ các ngân hàng trên thế giới
09/08/2022 171 lượt xem
Với sự bùng nổ của công nghệ, nhiều mô hình kinh doanh mới đã ra đời, một trong số đó là sự xuất hiện của các công ty cung cấp dịch vụ tài chính kỹ thuật số, đặc biệt là sự hiện diện của ngân hàng kỹ thuật số. Ngân hàng kỹ thuật số cung cấp một số dịch vụ hoàn chỉnh hơn so với các công ty Fintech, chủ yếu dựa vào các kênh phân phối kỹ thuật số. Sự có mặt của ngân hàng kỹ thuật số đã mang lại lợi ích cho người tiêu dùng và cho cả đất nước vì nó đã lấp khoảng trống phân khúc khách hàng chưa được phục vụ từ ngân hàng thương mại truyền thống, tiết kiệm chi phí giao dịch, tiết kiệm thời gian và tiện lợi cho khách hàng sử dụng.
Kinh nghiệm phát triển ngân hàng số tại một số quốc gia khu vực châu Á và bài học đối với Việt Nam
Kinh nghiệm phát triển ngân hàng số tại một số quốc gia khu vực châu Á và bài học đối với Việt Nam
01/08/2022 388 lượt xem
Chris (2014) xác định ngân hàng số là mô hình hoạt động của ngân hàng mà trong đó các hoạt động chủ yếu dựa vào các nền tảng với dữ liệu điện tử và công nghệ số là giá trị cốt lõi. Sharma (2016) tiếp cận khái niệm ngân hàng số là ngân hàng ứng dụng nền tảng công nghệ mới nhất đối với tất cả các chức năng và dịch vụ, ở mọi cấp độ trong hoạt động của ngân hàng.
Thực tiễn triển khai Ngân hàng mở tại Hàn Quốc và kinh nghiệm đối với Việt Nam
Thực tiễn triển khai Ngân hàng mở tại Hàn Quốc và kinh nghiệm đối với Việt Nam
25/07/2022 453 lượt xem
Với tác động của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư, những năm gần đây, lĩnh vực tài chính - ngân hàng đang chuyển mình mạnh mẽ, đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin và chuyển đổi số trong mọi hoạt động nghiệp vụ ngân hàng.
Chuyển đổi số ở Đông Nam Á: Thách thức và giải pháp
Chuyển đổi số ở Đông Nam Á: Thách thức và giải pháp
14/07/2022 788 lượt xem
Tóm tắt: Nhằm xây dựng cộng đồng kỹ thuật số và trở thành khối kinh tế hàng đầu, các nước Đông Nam Á rất coi trọng chuyển đổi số để tiếp tục tăng trưởng và thịnh vượng.
Các công ty công nghệ lớn trên thị trường tài chính: Rủi ro và thách thức đối với các nhà quản lý
Các công ty công nghệ lớn trên thị trường tài chính: Rủi ro và thách thức đối với các nhà quản lý
29/06/2022 747 lượt xem
Sự gia nhập của các BigTech vào thị trường dịch vụ tài chính làm cho thị trường này hoạt động hiệu quả hơn, nhưng đồng thời, cũng tạo ra rủi ro cho sự ổn định tài chính và cạnh tranh. Làm thế nào để quản lý các BigTech là chủ đề chính được các nhà nghiên cứu, nhà quản lý và chuyên gia ngân hàng trung ương của nhiều nước trên thế giới thảo luận.
Vai trò của SWIFT trong hoạt động thanh toán quốc tế và các kịch bản cho hệ thống thanh toán của Nga khi bị loại khỏi SWIFT
Vai trò của SWIFT trong hoạt động thanh toán quốc tế và các kịch bản cho hệ thống thanh toán của Nga khi bị loại khỏi SWIFT
16/06/2022 934 lượt xem
Tầm quan trọng của SWIFT đối với hệ thống tài chính toàn cầu thường chỉ được đề cập gián tiếp khi nghiên cứu các vấn đề khác. Bằng phương pháp khảo lược và phân tích thống kê mô tả, bài viết tập trung nêu bật tầm quan trọng của cơ sở hạ tầng tài chính truyền tín hiệu thanh toán xuyên biên giới, trong đó nhấn mạnh vai trò, tầm ảnh hưởng của hệ thống SWIFT trong hoạt động thanh toán quốc tế.
Cung tiền của các nước ASEAN giai đoạn 2000 - 2020 và hàm ý khu vực
Cung tiền của các nước ASEAN giai đoạn 2000 - 2020 và hàm ý khu vực
10/06/2022 1.611 lượt xem
Cung tiền là một tham số kinh tế vĩ mô quan trọng, trong đó, có M0 gồm giấy bạc và tiền xu đang lưu hành; M1 gồm M0 và tiền gửi không kỳ hạn; M2 gồm M1 và tiền gửi kỳ hạn. M3 gồm M2 và giấy tờ có giá khác như cổ phiếu, trái phiếu, hối phiếu, kỳ phiếu, thương phiếu (Mishkin F.S., 2021). M2 là tham số được sử dụng chủ yếu khi đề cập đến chính sách tiền tệ của một quốc gia với số liệu thống kê công bố chính thức hằng năm bởi cơ quan tiền tệ quốc gia.
Số hóa và tương lai của hệ thống ngân hàng châu Âu: Ba kịch bản
Số hóa và tương lai của hệ thống ngân hàng châu Âu: Ba kịch bản
03/06/2022 866 lượt xem
Các công nghệ mới đang thay đổi cách thức cung cấp dịch vụ tài chính của các ngân hàng truyền thống. Những thay đổi này tạo ra các nguồn rủi ro hệ thống mới, từ đó, đặt ra các thách thức về chính sách và quản lý.
Phát triển năng lượng tái tạo  Việt Nam: Bài học kinh nghiệm từ Đài Loan
Phát triển năng lượng tái tạo Việt Nam: Bài học kinh nghiệm từ Đài Loan
30/05/2022 2.188 lượt xem
Trong bối cảnh các nguồn năng lượng truyền thống đang dần cạn kiệt thì việc tìm kiếm nguồn năng lượng tái tạo là cần thiết cho phát triển bền vững. Theo Báo cáo cạnh tranh toàn cầu của Diễn đàn Kinh tế thế giới (WEF - World Economic Forum), Đài Loan xếp thứ 15 toàn cầu và thứ 4 châu Á (năm 2018) về phát triển năng lượng tái tạo, đem lại hiệu quả trong tăng trưởng kinh tế, giải quyết các vấn đề về xã hội, môi trường.
Chuyển đổi số ngành Ngân hàng - Kinh nghiệm quốc tế và bài học đối với Việt Nam
Chuyển đổi số ngành Ngân hàng - Kinh nghiệm quốc tế và bài học đối với Việt Nam
25/05/2022 1.866 lượt xem
Trong bối cảnh cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư (CMCN 4.0), chuyển đổi số ngành Ngân hàng đã trở thành xu hướng tất yếu trên thế giới.
Cơ chế thử nghiệm trong hoạt động công nghệ tài chính: Kinh nghiệm quốc tế và một số đề xuất đối với Việt Nam
Cơ chế thử nghiệm trong hoạt động công nghệ tài chính: Kinh nghiệm quốc tế và một số đề xuất đối với Việt Nam
24/05/2022 1.041 lượt xem
Vào năm 1972, Fintech lần đầu tiên được giới thiệu bởi Bettinger và được định nghĩa rằng, đây là sự kết hợp giữa kinh nghiệm và chuyên môn của ngân hàng với công nghệ thông tin và kể từ đó, có nhiều nghiên cứu đã mở rộng liên quan đến Fintech.
Điều hành chính sách tiền tệ trong bối cảnh đại dịch Covid-19 của  Ngân hàng Cộng hòa dân chủ nhân  dân Lào
Điều hành chính sách tiền tệ trong bối cảnh đại dịch Covid-19 của Ngân hàng Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào
23/05/2022 2.177 lượt xem
Đại dịch Covid-19 bùng phát cuối năm 2019, đầu năm 2020 đã gây ra những tác động tiêu cực chưa từng có đối với sức khỏe và tính mạng con người trên toàn cầu. Nhiều nước thực hiện các biện pháp phòng, chống dịch nghiêm ngặt do hạn chế về nguồn vắc-xin, vì thế, khiến nền kinh tế toàn cầu rơi vào suy thoái nghiêm trọng.
Kinh nghiệm quốc tế đối với quản lý tài sản mã hóa
Kinh nghiệm quốc tế đối với quản lý tài sản mã hóa
10/05/2022 1.717 lượt xem
Đại đa số các quốc gia đều khẳng định rằng, về mặt pháp lý, tài sản mã hóa (TSMH) không đáp ứng được các tiêu chuẩn để có thể được xem là tiền pháp định. Một số quốc gia cấm toàn bộ TSMH và các giao dịch liên quan nhưng một số quốc gia khác công nhận một đặc tính nào đó của TSMH và công nhận tính hợp pháp của các giao dịch liên quan.
Liệu Nhân dân tệ có thể cạnh tranh với USD trong hệ thống tài chính toàn cầu?
Liệu Nhân dân tệ có thể cạnh tranh với USD trong hệ thống tài chính toàn cầu?
04/05/2022 1.784 lượt xem
Các công ty phương Tây đang rời khỏi Nga, đồng nghĩa với việc thương mại với Trung Quốc sẽ mở rộng. Một số ngân hàng Nga đã đề nghị khách hàng mở tài khoản bằng tiền Trung Quốc. Nền kinh tế Trung Quốc là một trong những nền kinh tế lớn nhất thế giới. Liệu Nhân dân tệ (CNY) có thể cạnh tranh với USD trong hệ thống tài chính toàn cầu?
Giá vàngXem chi tiết

GIÁ VÀNG - XEM THEO NGÀY

Khu vực

Mua vào

Bán ra

HÀ NỘI

Vàng SJC 1L

66.000

67.020

TP.HỒ CHÍ MINH

Vàng SJC 1L

66.000

67.000

Vàng SJC 5c

66.000

67.020

Vàng nhẫn 9999

52.350

53.250

Vàng nữ trang 9999

52.250

52.850


Ngoại tệXem chi tiết
TỶ GIÁ - XEM THEO NGÀY 
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 23.220 23.530 26.488 27.866 31.023 32.318 204.16 214.87
BIDV 23.250 23.530 26.575 27.683 31.139 32.402 203.99 213.29
VietinBank 23.230 23.530 26.607 27.727 31.399 32.409 204.47 213.47
Agribank 23.240 23.525 26.787 27.493 31.334 32.117 205.87 211.70
Eximbank 23.270 23.500 26.871 27.398 31.480 32.096 206.75 210.81
ACB 23.270 23.800 26.814 27.429 31.401 31.993 206.11 211.05
Sacombank 23.260 23.750 26.953 27.513 31.568 32.084 206.29 212.66
Techcombank 23.246 23.532 26.643 27.863 31.118 32.281 205.24 214.28
LienVietPostBank 23.230 23.530 26.875 27.928 31.504 31.988 207.19 213.97
DongA Bank 23.290 23.540 26.930 27.410 31.560 32.110 203.80 210.30
(Cập nhật trong ngày)
Lãi SuấtXem chi tiết
(Cập nhật trong ngày)
Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,20
0,20
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,40
BIDV
0,10
-
-
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
VietinBank
0,10
0,20
0,20
0,20
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
Eximbank
0,10
0,20
0,20
0,20
3,40
3,50
3,70
5,40
5,40
5,90
6,00
ACB
-
0,20
0,20
0,20
3,10
3,20
3,40
4,50
4,60
5,10
5,80
Sacombank
0,03
-
-
-
3,50
3,70
3,80
5,20
5,35
5,80
6,20
Techcombank
0,03
-
-
-
2,95
3,25
3,45
5,25
5,25
5,65
5,75
LienVietPostBank
0,10
0,10
0,10
0,10
3,50
3,50
3,80
4,47
4,45
5,49
5,34
DongA Bank
0,20
0,20
0,20
0,20
3,80
3,80
3,80
6,10
6,20
6,70
7,00
Agribank
0,10
-
-
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60

Liên kết website
Bình chọn trực tuyến
Nội dung website có hữu ích với bạn không?