Tác động của dự phòng rủi ro tín dụng đến hoạt động của các tổ chức tín dụng.
22/11/2021 937 lượt xem
Dự phòng rủi ro tín dụng là các ước tính về phương diện kế toán cho những tổn thất tiềm năng có thể xảy ra trong hoạt động tín dụng của các tổ chức tín dụng (TCTD)...
 
Tóm tắt:
 
Dự phòng rủi ro tín dụng là các ước tính về phương diện kế toán cho những tổn thất tiềm năng có thể xảy ra trong hoạt động tín dụng của các tổ chức tín dụng (TCTD), từ đó giúp các TCTD đánh giá chính xác hơn về chất lượng danh mục tín dụng cũng như tình hình tài sản có của họ. Tuy nhiên, do dự phòng rủi ro tín dụng được tính vào chi phí hoạt động và là các khoản chi phí không bằng tiền nên nó có ảnh hưởng đến chi phí hoạt động, lợi nhuận, dòng tiền từ hoạt động, khả năng trích lập quỹ, khả năng chi trả cổ tức, vốn chủ sở hữu, tỷ lệ an toàn vốn cũng như thị giá cổ phần của các TCTD. Nói cách khác, dự phòng rủi ro tín dụng không phải là “công cụ” giúp các TCTD có được “nguồn dự phòng rủi ro tín dụng” hay trích lập được “Quỹ dự phòng rủi ro tín dụng”. Vì thế, rất cần có những quy định kèm theo để các ước tính kế toán này phát huy tác dụng như kỳ vọng của các nhà quản lý. Trên cơ sở đó, bài viết cho thấy: (1) Bản chất của dự phòng rủi ro tín dụng; (2) Tác động của dự phòng rủi ro tín dụng đến hoạt động của các TCTD; (3) Để dự phòng rủi ro tín dụng phát huy tác dụng như kỳ vọng, nhóm tác giả đề xuất các biện pháp nhằm giúp các TCTD có được lượng “tiền tươi - thóc thật” dự phòng cho các tổn thất trong hoạt động tín dụng của mình.
 
Từ khóa: Chi phí không bằng tiền, tiết kiệm thuế, dự phòng rủi ro, phân loại nợ. 
 
1. Bản chất của dự phòng rủi ro tín dụng 
 
Tín dụng là tài sản sinh lời chủ yếu của các TCTD, tuy nhiên, tín dụng cũng là hoạt động tiềm ẩn nhiều rủi ro cho các TCTD do khả năng khách hàng không trả được nợ khi đến hạn. Sự kiện này được gọi là rủi ro tín dụng. Do đó, để ổn định thu nhập và đảm bảo tỷ lệ an toàn vốn, các TCTD cần ước tính được những tổn thất của hoạt động tín dụng, đồng thời trích lập dự phòng rủi ro tín dụng và tìm cách duy trì được lượng tiền tương ứng để bù đắp được những tổn thất trong hoạt động tín dụng của mình.
 
Tại các khoản 3, 4 và 5 Điều 3 Thông tư số 11/2021/TT-NHNN ngày 30/7/2021 của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN) thì dự phòng rủi ro tín dụng được giải thích là số tiền được trích lập và hạch toán vào chi phí hoạt động để dự phòng cho những rủi ro có thể xảy ra đối với nợ của TCTD. Dự phòng rủi ro tín dụng bao gồm dự phòng cụ thể và dự phòng chung. Dự phòng cụ thể là số tiền được trích lập để dự phòng cho những rủi ro có thể xảy ra đối với từng khoản nợ cụ thể. Dự phòng chung là số tiền được trích lập để dự phòng cho những rủi ro có thể xảy ra nhưng chưa xác định được khi trích lập dự phòng cụ thể.
 
Để làm cơ sở cho việc trích lập dự phòng rủi ro tín dụng, Thông tư số 11/2021/TT-NHNN yêu cầu các TCTD ít nhất mỗi tháng 1 lần phải phân loại nợ và trích lập dự phòng rủi ro tín dụng. Nợ của các TCTD được phân thành 5 nhóm nợ theo phương pháp định tính hoặc định lượng, bao gồm: Nhóm 1 (nợ đủ tiêu chuẩn); nhóm 2 (nợ cần chú ý); nhóm 3 (nợ dưới tiêu chuẩn); nhóm 4 (nợ nghi ngờ); nhóm 5 (nợ có khả năng mất vốn). Trong đó, nợ quá hạn là khoản nợ mà khách hàng không trả được đúng hạn một phần hoặc toàn bộ nợ gốc và/hoặc lãi theo thỏa thuận với TCTD. Nợ xấu (NPL) là nợ thuộc các nhóm 3, 4 và 5.
 
Cũng theo Thông tư số 11/2021/TT-NHNN thì các TCTD phải trích dự phòng chung bằng 0,75% tổng số dư các khoản nợ từ nhóm 1 đến nhóm 4 (có loại trừ các khoản tiền gửi tại TCTD, khoản cho vay, mua có kỳ hạn giấy tờ có giá giữa các TCTD, khoản mua kỳ phiếu, tín phiếu, chứng chỉ tiền gửi, trái phiếu do TCTD phát hành trong nước, khoản mua bán lại trái phiếu Chính phủ). Dự phòng rủi ro tín dụng cụ thể được tính bằng tỷ lệ dự phòng rủi ro tín dụng cụ thể nhân với dư nợ tín dụng của từng khoản cấp tín dụng sau khi đã khấu trừ giá trị tài sản bảo đảm. Tỷ lệ trích lập dự phòng cụ thể đối với từng nhóm nợ như sau: Nhóm 1: 0%; nhóm 2: 5%; nhóm 3: 20%; nhóm 4: 50%; nhóm 5: 100%.
 
Các TCTD được sử dụng dự phòng để xử lý rủi ro trong các trường hợp khách hàng là tổ chức bị giải thể, phá sản; cá nhân bị chết, mất tích, các khoản nợ được phân loại vào nhóm 5. Các TCTD sử dụng dự phòng rủi ro tín dụng để xử lý rủi ro theo nguyên tắc xử lý tài sản bảo đảm để thu hồi nợ, sử dụng dự phòng chung hoặc sử dụng dự phòng cụ thể, xử lý tài sản bảo đảm để thu hồi nợ, sử dụng dự phòng chung. Các TCTD phải hạch toán ngoại bảng phần dư nợ đã sử dụng dự phòng cụ thể, dự phòng chung để xử lý rủi ro. Các TCTD không được thông báo cho khách hàng về việc khoản nợ đã được sử dụng dự phòng để xử lý rủi ro.
 
Để hạch toán và theo dõi dự phòng rủi ro tín dụng, các TCTD phải mở tài khoản dự phòng rủi ro tín dụng chung và dự phòng rủi ro tín dụng cụ thể cho từng loại hình cấp tín dụng (cho vay, cho thuê tài chính, chiết khấu, trả thay các cam kết ngoại bảng,…). Bên Có của các tài khoản dự phòng rủi ro tín dụng ghi nhận các khoản trích lập hay trích lập bổ sung dự phòng rủi ro tín dụng tính vào chi phí hoạt động. Bên Nợ của các tài khoản dự phòng rủi ro tín dụng ghi nhận các khoản sử dụng dự phòng rủi ro tín dụng để bù đắp tổn thất (nợ có khả năng mất vốn) và hoàn nhập số chênh lệch thừa dự phòng đã lập theo quy định. Số dư Có của tài khoản dự phòng rủi ro tín dụng phản ánh số dự phòng rủi ro tín dụng hiện có cuối kỳ của TCTD.
 
Để đánh giá chất lượng danh mục tín dụng, các TCTD có thể sử dụng chỉ tiêu tỷ lệ dự phòng rủi ro tín dụng được tính bằng cách chia dự phòng rủi ro tín dụng cho tổng dư nợ tín dụng của các TCTD. Để phản ánh khả năng bù đắp nợ xấu bằng dự phòng rủi ro tín dụng, các TCTD sử dụng chỉ tiêu tỷ lệ bao phủ nợ xấu được tính bằng cách chia dự phòng rủi ro tín dụng cho số dư nợ xấu bao gồm nợ thuộc nhóm 3, nhóm 4 và nhóm 5. Thông thường, tỷ lệ dự phòng rủi ro tín dụng thấp hơn 100%  nhưng tỷ lệ bao phủ nợ xấu có thể lớn hơn 100% do tỷ lệ nợ xấu khá thấp (có khi chưa đến 1% tổng dư nợ tín dụng) trong khi dự phòng rủi ro tín dụng tích lũy lớn hơn tổng nợ xấu của TCTD rất nhiều. 
 
2. Tác động của dự phòng rủi ro tín dụng đến hoạt động của các TCTD
 
Từ các quy định về trích lập và sử dụng dự phòng rủi ro tín dụng cho thấy, bản chất của dự phòng rủi ro tín dụng là các ước tính về phương diện kế toán cho những tổn thất tiềm năng trong hoạt động tín dụng của các TCTD. Nhờ các ước tính này mà chất lượng danh mục tín dụng của các TCTD được phản ánh chính xác hơn, từ đó, giúp các TCTD đánh giá được chính xác hơn tài sản Có của TCTD. Mặt khác, do dự phòng rủi ro tín dụng được tính vào chi phí hoạt động và là một khoản chi phí không bằng tiền nên nó có tác động đến chi phí hoạt động, lợi nhuận, dòng tiền từ hoạt động, khả năng trích lập quỹ, khả năng chi trả cổ tức, vốn chủ sở hữu, tỷ lệ an toàn vốn, cũng như giá cổ phần của các TCTD trên thị trường.
 
Tác động đến danh mục tín dụng và tài sản Có của các TCTD 
 
Do dự phòng rủi ro tín dụng là các ước tính kế toán cho những tổn thất tiềm năng trong hoạt động tín dụng của các TCTD nên các khoản dự phòng rủi ro tín dụng này sẽ được điều chỉnh giảm với dư nợ các khoản cấp tín dụng Bên tài sản Có của Bảng cân đối kế toán của các TCTD, các khoản mục dự phòng rủi ro tín dụng điều chỉnh giảm này sẽ giúp các TCTD xác định được dư nợ tín dụng thuần, một chỉ tiêu phản ánh chính xác chất lượng danh mục tín dụng hơn so với chỉ tiêu dư nợ tín dụng của các TCTD cũng như tài sản Có hiện tại của các TCTD. 
 
Tác động đến chi phí hoạt động và lợi nhuận trước thuế 
 
Do khoản dự phòng rủi ro tín dụng này được hạch toán vào chi phí hoạt động nên nó có tác động làm tăng chi phí hoạt động của các TCTD, dẫn đến làm giảm tỷ lệ thu nhập hoạt động cận biên được đo lường bằng tỷ lệ giữa hiệu số thu nhập hoạt động và chi phí hoạt động với tổng tài sản bình quân của TCTD, khiến cho các TCTD không muốn giảm thêm lãi suất cho vay hoặc thậm chí có xu hướng muốn gia tăng lãi suất cho vay để bù đắp cho sụt giảm trong tỷ lệ thu nhập hoạt động cận biên của các TCTD. Chi phí hoạt động tăng cũng làm giảm lợi nhuận trước thuế của các TCTD.
 
Tác động đến chi phí thuế thu nhập và lợi nhuận sau thuế
 
Do dự phòng rủi ro tín dụng được hạch toán vào chi phí hoạt động nên nó có tác động làm giảm chi phí thuế thu nhập hiện hành của các TCTD. 
 
Tác động đến dòng tiền từ hoạt động 
 
Mặc dù dự phòng rủi ro tín dụng làm giảm lợi nhuận sau thuế của các TCTD nhưng do nó là chi phí không bằng tiền nên có tác dụng giúp các TCTD tiết kiệm được chi phí thuế thu nhập hiện hành, từ đó có tác dụng làm tăng dòng tiền từ hoạt động cho các TCTD. 
 
Tác động đến khả năng trích lập các quỹ, vốn chủ sở hữu, tỷ lệ an toàn vốn và thị giá cổ phần 
 
Do dự phòng rủi ro tín dụng tác động làm giảm lợi nhuận sau thuế nên nó cũng tác động làm giảm khả năng trích lập quỹ của các TCTD (Quỹ bổ sung vốn điều lệ, Quỹ đầu tư phát triển, Quỹ dự phòng tài chính và các quỹ khác). Mặt khác, lợi nhuận sau thuế giảm làm giảm lợi nhuận chưa phân phối, vì vậy, nó tác động trực tiếp làm giảm vốn chủ sở hữu của các TCTD. Vốn chủ sở hữu giảm cũng có tác động làm giảm tỷ lệ an toàn vốn của các TCTD. Ngoài ra, lợi nhuận sau thuế giảm do trích lập dự phòng rủi ro tín dụng cũng tác động làm giảm khả năng chi trả cổ tức cho các cổ đông. Thông tin này cùng với thông tin về trích lập dự phòng rủi ro tín dụng làm giảm lợi nhuận sau thuế của các TCTD, cuối cùng có tác động đến giá cổ phần của các TCTD trên thị trường.
 
3. Để dự phòng rủi ro tín dụng phát huy tác dụng như kỳ vọng
 
Nhận biết được bản chất của dự phòng rủi ro tín dụng và các tác động của dự phòng rủi ro tín dụng đến hoạt động của các TCTD về phương diện chi phí và lợi nhuận, tài sản, vốn và quỹ, tỷ lệ an toàn vốn và thị giá cổ phần cho thấy rằng, dự phòng rủi ro tín dụng không phải là “công cụ” giúp cho các TCTD có được “nguồn dự phòng rủi ro tín dụng” hay “Quỹ dự phòng rủi ro tín dụng” như kỳ vọng của các nhà quản lý. Do đó, cần có những quy định kèm theo để dự phòng rủi ro tín dụng giúp cho các TCTD tạo ra được lượng “tiền tươi - thóc thật” để xử lý rủi  ro tín dụng, đảm bảo được năng lực tài chính và khả năng chi trả cho các TCTD. Do vậy, nhóm tác giả có một số đề xuất bổ sung các quy định kèm theo bao gồm:
 
Một là, loại trừ dự phòng rủi ro tín dụng trong tài sản có tính thanh khoản cao khi tính tỷ lệ khả năng chi trả của các TCTD để đảm bảo các TCTD có được lượng “tiền tươi - thóc thật” để xử lý rủi ro tín dụng. Điều này sẽ giúp cho việc xử lý rủi ro tín dụng không ảnh hưởng đến khả năng chi trả của các TCTD.
 
Hai là, khi tỷ lệ bao phủ nợ xấu đạt đến 100% thì các TCTD có thể dừng trích lập dự phòng chung, đặc biệt là dự phòng chung cho nợ nhóm 1 vì thực tế cho thấy, tỷ lệ nợ nhóm 1 chiếm tỷ trọng cao trong tổng dư nợ tín dụng của các TCTD, nên việc trích lập dự phòng chung cho nợ nhóm 1 trong giai đoạn tăng trưởng tín dụng cao và chất lượng tăng trưởng tín dụng được kiểm soát tốt sẽ làm tăng nhanh dự phòng rủi ro tín dụng của các TCTD một cách không cần thiết.
 
Ba là, khi tỷ lệ bao phủ nợ xấu lớn hơn 100% đến một tỷ lệ nào đó (chẳng hạn 200% hay 300%) thì các TCTD phải hoàn nhập dự phòng phần vượt quá tỷ lệ tối đa được phép. Quy định này sẽ giúp các TCTD giải phóng được lượng tài sản có thanh khoản cao cho các mục đích sinh lời khác như cấp tín dụng hoặc đầu tư. Mặt khác, quy định này cũng nhằm giúp cho các TCTD hạn chế được những tác động tiêu cực do bị giảm lợi nhuận sau thuế, khả năng trích lập quỹ và tỷ lệ an toàn vốn, khả năng chi trả cổ tức. Bên cạnh đó, quy định này cũng giúp cho ngân sách Nhà nước không bị giảm thu từ nghĩa vụ thuế thu nhập doanh nghiệp của các TCTD. Thử hình dung rằng, một TCTD có tỷ lệ bao phủ nợ xấu lên đến 100% hay thậm chí cao hơn nữa giúp cho các TCTD tiết kiệm được thuế thu nhập đáng kể như thế nào. Mặt khác, một khi vốn khả dụng và các khoản đầu tư (tín phiếu, chứng khoán và giấy tờ có giá) hiện có của TCTD thấp hơn dự phòng rủi ro tín dụng thì điều này có nghĩa là TCTD không còn đảm bảo được tỷ lệ khả năng chi trả tối thiểu theo quy định, thậm chí một lượng tiền thay vì để dự phòng rủi ro tín dụng đã bị các TCTD sử dụng vào mục đích cấp tín dụng và/hoặc các mục đích sinh lời khác. Khi đó, dự phòng rủi ro tín dụng không còn tác dụng gì nữa.
 
Bốn là, ban hành thông tư hướng dẫn thẩm định giá tài sản bảo đảm hoặc yêu cầu các TCTD phải ban hành các quy định nội bộ về thẩm định giá tài sản bảo đảm phù hợp với hệ thống tiêu chuẩn thẩm định giá Việt Nam cũng như các tiêu chuẩn thẩm định giá quốc tế. Quy định này sẽ hạn chế việc các TCTD thẩm định giá hoặc tái thẩm định giá tài sản bảo đảm một cách có chủ ý để cố tình tăng hoặc giảm trích dự phòng rủi ro tín dụng không phù hợp với giá trị thị trường của tài sản bảo đảm được khấu trừ.

Tài liệu tham khảo:
 
1. Phạm Xuân Quỳnh, Trần Đức Tuấn (2019), Nghiên cứu dự phòng rủi ro tín dụng tại các ngân hàng thương mại Việt Nam, Tạp chí Tài chính online 23/4/2019.
 
2. Nguyễn Văn Thuận, Dương Hồng Ngọc (2015), Phân tích các yếu tố tác động đến dự phòng rủi ro tín dụng của các ngân hàng thương mại Việt Nam, Tạp chí Khoa học, Trường Đại học Mở TP. Hồ Chí Minh - số 10 (3) 2015.
 
3. Hà Phương (2021), Soi mức trích lập chi phí dự phòng rủi ro tín dụng tại ngân hàng, https://sohuutritue.net.vn/soi-muc-trich-lap-chi-phi-du-phong-rui-ro-tin-dung-tai-ngan-hang-d24961.html
 
4. Thông tư số 11/2021/TT-NHNN ngày 30/7/2021 của Thống đốc NHNN quy định về phân loại tài sản có, mức trích, phương pháp trích lập dự phòng rủi ro và việc sử dụng dự phòng để xử lý rủi ro trong hoạt động của TCTD, chi nhánh ngân hàng nước ngoài.
 
5. Quyết định số 479/2004/QĐ-NHNN ngày 29/4/2004 của Thống đốc NHNN ban hành Hệ thống tài khoản kế toán các TCTD.
 
6. Thông tư số 22/2019/TT-NHNN ngày 15/11/2019 của Thống đốc NHNN quy định các giới hạn, tỷ lệ bảo đảm an toàn trong hoạt động của ngân hàng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài.

TS. Nguyễn Hoàng Vĩnh Lộc, TS. Phan Ngọc Minh (Trường Đại học Ngân hàng TP. HCM)
 
ThS. Đinh Văn Hoàn (Công ty cổ phần Khu công nghiệp Tân Bình)
Bình luận Ý kiến của bạn sẽ được kiểm duyệt trước khi đăng. Vui lòng gõ tiếng Việt có dấu
Đóng lại ok
Bình luận của bạn chờ kiểm duyệt từ Ban biên tập
Hệ thống ngân hàng trên địa bàn tỉnh Bắc Kạn triển khai các giải pháp hỗ trợ, tháo gỡ khó khăn do tác động của dịch bệnh Covid-19
Hệ thống ngân hàng trên địa bàn tỉnh Bắc Kạn triển khai các giải pháp hỗ trợ, tháo gỡ khó khăn do tác động của dịch bệnh Covid-19
26/01/2022 23 lượt xem
Trước diễn biến phức tạp, khó lường của dịch bệnh Covid-19, tác động tiêu cực đến nền kinh tế, gây ra nhiều khó khăn, ảnh hưởng không nhỏ đến đời sống người dân nói chung và hoạt động ngân hàng nói riêng, Ngân hàng Nhà nước (NHNN) Chi nhánh tỉnh Bắc Kạn đã chủ động triển khai tới hệ thống ngân hàng trên địa bàn các giải pháp thực hiện “mục tiêu kép” vừa phòng, chống dịch bệnh Covid-19 vừa thực hiện các biện pháp khắc phục những khó khăn do tác động của dịch bệnh Covid-19 theo chủ trương của Đảng, các Nghị quyết của Quốc hội, chỉ đạo của Chính phủ, của ngành Ngân hàng và cấp ủy, chính quyền địa phương.
Thanh toán không dùng tiền mặt trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên: Phát triển về quy mô và chất lượng dịch vụ
Thanh toán không dùng tiền mặt trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên: Phát triển về quy mô và chất lượng dịch vụ
26/01/2022 29 lượt xem
Thanh toán không dùng tiền mặt (TTKDTM) có vai trò hết sức quan trọng đối với từng người dân, doanh nghiệp và đối với toàn bộ nền kinh tế.
Hệ thống ngân hàng tỉnh Đồng Tháp đồng hành với người dân, doanh nghiệp phục hồi sản xuất, kinh doanh trong bối cảnh “bình thường mới”
Hệ thống ngân hàng tỉnh Đồng Tháp đồng hành với người dân, doanh nghiệp phục hồi sản xuất, kinh doanh trong bối cảnh “bình thường mới”
25/01/2022 54 lượt xem
Năm 2021, làn sóng dịch Covid-19 lần thứ tư bùng phát và lan nhanh tại thành phố Hồ Chí Minh và các tỉnh phía Nam, trong đó có tỉnh Đồng Tháp, đã ảnh hưởng nặng nề đến mục tiêu phát triển kinh tế, xã hội tại địa phương nói chung và hoạt động sản xuất, kinh doanh của người dân, doanh nghiệp nói riêng.
Hệ thống ngân hàng tỉnh Vĩnh Long đồng hành cùng địa phương phát triển kinh tế - xã hội và phòng, chống dịch Covid-19
Hệ thống ngân hàng tỉnh Vĩnh Long đồng hành cùng địa phương phát triển kinh tế - xã hội và phòng, chống dịch Covid-19
25/01/2022 52 lượt xem
Vĩnh Long là tỉnh thuộc trung tâm khu vực Đồng bằng sông Cửu Long, kết nối giao thương thuận lợi với các tỉnh trong khu vực, là tỉnh có thế mạnh về sản xuất nông nghiệp với nhiều đặc sản nổi tiếng như: Cam sành, bưởi năm roi, khoai lang tím, cá tra... Công nghiệp, dịch vụ của tỉnh Vĩnh Long đang trên đà phát triển.
Công đoàn Ngân hàng Việt Nam tích cực chăm lo đời sóng, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đoàn viên, người lao động
Công đoàn Ngân hàng Việt Nam tích cực chăm lo đời sóng, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đoàn viên, người lao động
24/01/2022 68 lượt xem
Thực hiện Nghị quyết Đại hội VI Công đoàn Ngân hàng Việt Nam (NHVN) nhiệm kỳ 2018 - 2023, trong nửa nhiệm kỳ qua, bằng nhiều chương trình hành động, Công đoàn NHVN đã thực hiện tốt vai trò của mình trong việc chăm lo đời sống, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đoàn viên, người lao động (NLĐ); tuy mới được nửa chặng đường, song nhiều chỉ tiêu thực hiện đã đạt và vượt so với Nghị quyết đề ra.
Ngân hàng Chính sách xã hội chung tay cùng cả nước vượt qua đại dịch Covid-19
Ngân hàng Chính sách xã hội chung tay cùng cả nước vượt qua đại dịch Covid-19
24/01/2022 57 lượt xem
Năm 2021, đại dịch Covid-19 tiếp tục diễn biến rất phức tạp, nhất là đợt dịch lần thứ tư bùng phát từ cuối tháng 4/2021 tại Việt Nam với biến chủng Delta có tốc độ lây lan nhanh, nguy hiểm, đã tác động tiêu cực đến nền kinh tế trong nước, ảnh hưởng sâu rộng tới đời sống người dân khi các chuỗi cung ứng, chuỗi lao động tại nhiều địa phương cũng như trong cả nước bị đứt gãy, sản xuất, tiêu dùng đình trệ, nguy cơ tái nghèo có xu hướng tăng.
Agribank phấn đấu đạt Top 100 ngân hàng lớn nhất khu vực châu Á về quy mô tài sản vào năm 2022
Agribank phấn đấu đạt Top 100 ngân hàng lớn nhất khu vực châu Á về quy mô tài sản vào năm 2022
24/01/2022 61 lượt xem
Năm 2021 là năm diễn ra nhiều sự kiện quan trọng. Đây là năm đầu tiên đất nước bước vào thực hiện kế hoạch kinh tế - xã hội 5 năm giai đoạn 2021 - 2026, tuy nhiên, làn sóng dịch Covid-19 lần thứ tư đã ảnh hưởng nghiêm trọng đến mọi mặt kinh tế - xã hội.
Xây dựng Ngân hàng Hợp tác xã Việt Nam đủ mạnh để hỗ trợ hệ thống Quỹ tín dụng nhân dân
Xây dựng Ngân hàng Hợp tác xã Việt Nam đủ mạnh để hỗ trợ hệ thống Quỹ tín dụng nhân dân
24/01/2022 70 lượt xem
Hơn 26 năm hình thành và phát triển, từ Quỹ tín dụng nhân dân (QTDND) Trung ương rồi chuyển đổi lên mô hình Ngân hàng của các QTDND, Ngân hàng Hợp tác xã Việt Nam (Ngân hàng Hợp tác) đã không chỉ đáp ứng vai trò điều hòa vốn cho các QTDND mà đã trở thành điểm tựa và liên kết hệ thống với việc cung ứng các dịch vụ ngân hàng hiện đại cũng như trợ lực QTDND thông qua công tác đào tạo và giám sát.
Trung tâm Thông tin tín dụng Quốc gia Việt Nam: Độ phủ thông tin tín dụng tiếp tục được cải thiện
Trung tâm Thông tin tín dụng Quốc gia Việt Nam: Độ phủ thông tin tín dụng tiếp tục được cải thiện
21/01/2022 3 lượt xem
CIC đã trở thành một bộ phận gắn kết, không thể thiếu cho hoạt động quản lý, chỉ đạo điều hành của NHNN, công tác thanh tra, giám sát ngân hàng; đồng thời, hỗ trợ có hiệu quả cho hoạt động kinh doanh và quản trị rủi ro của các tổ chức tín dụng (TCTD)...
Xuân ấm no nhờ đồng vốn nhân văn
Xuân ấm no nhờ đồng vốn nhân văn
19/01/2022 247 lượt xem
Trên cao nguyên Gia Lai, trong hành trình phát triển kinh tế - xã hội địa phương, nguồn vốn tín dụng chính sách của Ngân hàng Chính sách xã hội (NHCSXH) đã tạo việc làm, nâng cao thu nhập, cải thiện đời sống vật chất và tinh thần cho người dân, đặc biệt là vùng đồng bào dân tộc thiểu số (DTTS), góp phần tích cực thực hiện mục tiêu giảm nghèo bền vững trên vùng đất Bắc Tây Nguyên.
                                    Tập trung vốn hỗ trợ sản xuất kinh doanh
Tập trung vốn hỗ trợ sản xuất kinh doanh
18/01/2022 100 lượt xem
Trong năm 2022, dòng vốn ngân hàng sẽ tiếp tục được ưu tiên cho sản xuất - kinh doanh, đặc biệt là những lĩnh vực khó khăn do dịch như du lịch, vận tải, lưu trú. Đặc biệt ngành Ngân hàng chuẩn bị sẵn...
Khẳng định vị thế, vai trò của tổ chức công đoàn
Khẳng định vị thế, vai trò của tổ chức công đoàn
12/01/2022 395 lượt xem
Ngày 23/12/2021, tại trụ sở Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN), Công đoàn cơ quan NHNN Trung ương (NHTW) đã tổ chức Hội nghị Ban Chấp hành lần thứ 9, nhiệm kỳ 2018 - 2023 và Hội nghị đánh giá kết quả thực hiện Quy chế phối hợp giữa Thủ trưởng hành chính cơ quan NHTW với Ban Thường vụ Công đoàn cơ quan NHTW năm 2021, định hướng nhiệm vụ công tác năm 2022. Hội nghị do Phó Thống đốc Thường trực NHNN Đào Minh Tú - Thủ trưởng hành chính cơ quan NHTW, Chủ tịch Công đoàn Ngân hàng Việt Nam chủ trì.
                                    Trung tâm Thông tin tín dụng Quốc gia Việt Nam:  Độ phủ thông tin tín dụng tiếp tục được cải thiện
Trung tâm Thông tin tín dụng Quốc gia Việt Nam:  Độ phủ thông tin tín dụng tiếp tục được cải thiện
12/01/2022 98 lượt xem
Trong năm 2021, Trung tâm Thông tin tín dụng Quốc gia Việt Nam (CIC) đã tập trung triển khai có hiệu quả theo đúng chức năng, nhiệm vụ được giao và đã đạt được những kết quả ấn tượng. Cán bộ CIC giải...
                                    Agribank hợp tác với các tổ chức trung gian, đẩy mạnh thanh toán không dùng tiền mặt
Agribank hợp tác với các tổ chức trung gian, đẩy mạnh thanh toán không dùng tiền mặt
12/01/2022 99 lượt xem
Xu hướng thanh toán số, không sử dụng tiền mặt ngày càng phát triển rộng rãi bởi tính bảo mật, an toàn và sự tiện dụng khi thanh toán cho người sử dụng. Bắt nhịp xu thế đó, Ngân hàng Nông nghiệp và P...
                                    Về nơi khởi đầu con đường Hồ Chí Minh lịch sử
Về nơi khởi đầu con đường Hồ Chí Minh lịch sử
12/01/2022 78 lượt xem
Chúng tôi về huyện Tân Kỳ, tỉnh Nghệ An - nơi khởi đầu con đường Hồ Chí Minh trong kháng chiến chống Mỹ hào hùng. Vẫn còn đó di tích lịch sử Km số 0, song, đường Hồ Chí Minh hôm nay đã trải nhựa rộng...
Giá vàngXem chi tiết
Khu vực Mua vào Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L 61.250 61.870
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L 61.250 61.850
Vàng SJC 5c 61.250 61.870
Vàng nhẫn 9999 52.800 53.500
Vàng nữ trang 9999 52.500 53.200

Ngoại tệXem chi tiết
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 22.520 22.830 26.488 27.866 31.023 32.318 204.16 214.87
BIDV 22.560 22.840 26.575 27.683 31.139 32.402 203.99 213.29
VietinBank 22.538 22.838 26.607 27.727 31.399 32.409 204.47 213.47
Agribank 22.580 22.820 26.787 27.493 31.334 32.117 205.87 211.70
Eximbank 22.590 22.790 26.871 27.398 31.480 32.096 206.75 210.81
ACB 22.580 22.780 26.814 27.429 31.401 31.993 206.11 211.05
Sacombank 22.550 22.842 26.953 27.513 31.568 32.084 206.29 212.66
Techcombank 22.558 22.833 26.643 27.863 31.118 32.281 205.24 214.28
LienVietPostBank 22.590 22.790 26.875 27.928 31.504 31.988 207.19 213.97
DongA Bank 22.610 22.790 26.930 27.410 31.560 32.110 203.80 210.30

Lãi SuấtXem chi tiết
Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,20
0,20
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,50
5,30
BIDV
0,10
-
-
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
VietinBank
0,10
0,20
0,20
0,20
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
Eximbank
0,10
0,20
0,20
0,20
3,50
3,50
3,50
5,60
5,80
6,10
6,30
ACB
-
0,20
0,20
0,20
3,00
3,10
3,20
4,40
4,80
5,50
6,20
Sacombank
0,03
-
-
-
3,10
3,20
3,30
4,60
4,90
5,50
6,00
Techcombank
0,03
-
-
-
2,45
2,45
2,65
3,90
3,90
4,50
4,50
LienVietPostBank
0,10
0,10
0,10
0,10
3,10
3,10
3,40
4,20
4,40
5,60
5,60
DongA Bank
-
0,20
0,20
0,20
3,40
3,40
3,40
5,30
5,50
5,80
6,10
Agribank
0,10
-
-
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60

Liên kết website
Bình chọn trực tuyến
Nội dung website có hữu ích với bạn không?