Thứ Năm, ngày 23 tháng 09 năm 2021

Phát triển CBDC trong thanh toán qua biên giới

Ngày đăng:08:16 10/09/2021
Lượt xem: 1.111
Cỡ chữ
Trong báo cáo gần đây, Ngân hàng Thanh toán quốc tế (BIS) đã công bố kết quả nghiên cứu về khả năng hình thành đồng tiền điện tử do ngân hàng trung ương (NHTW) phát hành, gọi là tiền điện tử của NHTW (Central bank digital currency - CBDC) và sử dụng trong thanh toán qua biên giới.
Công trình nghiên cứu được tiến hành trong bối cảnh đại dịch Covid-19 đã tiếp thêm động lực mở rộng các loại hình dịch vụ trực tuyến xuyên biên giới, đặc biệt là thanh toán và chuyển tiền qua các thiết bị di động, thu hút sự tham gia đông đảo của nhiều nhà cung cấp dịch vụ thanh toán, nổi bật là sự vào cuộc nhanh chóng của các công ty công nghệ lớn (big techs). Tuy nhiên, dịch vụ thanh toán qua biên giới bị chỉ trích mạnh mẽ là cước phí cao, tốc độ thấp, thiếu minh bạch, khả năng tiếp cận hạn chế. Điều này trái ngược với những tiến bộ công nghệ liên tiếp trong nhiều thập kỷ qua và chi phí truyền thông giảm mạnh. Để xử lý những thách thức này, tháng 10/2020, G20 đã thông qua Chương trình tổng thể để cải thiện thanh toán qua biên giới. Chương trình này do Ủy ban Ổn định tài chính (FSB) triển khai, với sự phối hợp tham gia của Ủy ban Thanh toán và Hạ tầng thị trường (CPMI), các cơ quan ấn định tiêu chuẩn và một số tổ chức quốc tế liên quan. Nội dung quan trọng của chương trình là xem xét các yếu tố liên quan đến khả năng sử dụng CBDC trong thanh toán qua biên giới.

Báo cáo nhấn mạnh, mặc dù thế giới đang nỗ lực chấn chỉnh hệ thống tiền tệ, song hầu hết các nước lớn chưa thực sự bắt tay vào nghiên cứu, phát hành CBDC, phần lớn nghiên cứu của NHTW mới dừng lại ở việc phát hành và sử dụng CBDC trên thị trường trong nước.

Theo kỳ vọng, CBDC sẽ được sử dụng rộng rãi, khắc phục được những vấn đề về phát triển thanh toán qua biên giới như quản lý, giám sát thanh toán, chống rửa tiền (AML), chống khủng bố tài chính (CFT), thanh toán sang một đồng tiền (PvP) - Cơ chế thanh toán đảm bảo, giao dịch cuối cùng được thực hiện bằng một đồng tiền nếu giao dịch cuối cùng bằng đồng tiền khác hay những đồng tiền thay thế.

1. Nghiên cứu sơ bộ về thiết kế CBDC qua biên giới
 
Cho tới nay, cả thế giới mới có hai CBDC bán lẻ qua biên giới là Sand Dollar tại Bahamas và DCash tại Đông Caribe, ngoài ra, có một vài dự án đang trong giai đoạn thử nghiệm. Tuy nhiên, vấn đề nâng cao hiệu quả thanh toán qua biên giới cũng là động lực quan trọng đối với mỗi dự án. Nguyên nhân là do hoạt động thanh toán qua biên giới (nhất là chuyển tiền) đã phát sinh nhiều vấn đề, bao gồm cước phí dịch vụ quá cao, không đảm bảo chuyển đủ lượng tiền như kỳ vọng cho người nhận. Khả năng tương tác giữa các hệ thống thanh toán bán buôn trong nước còn hạn chế, một phần là do mạng lưới ngân hàng đại lý quá rộng, làm tăng chi phí và chậm trễ. Ngoài ra, phải kể đến hàng loạt rào cản bắt nguồn từ sự khác biệt về pháp lý trong nước như khác biệt về việc thực hiện các tiêu chuẩn AML/CFT, quy định về thanh toán cuối cùng, quy định về xung đột luật pháp.

Trong điều kiện như vậy, CBDC được nhiều NHTW coi là cơ hội để đơn giản hóa các chuỗi trung gian, nâng cao hiệu quả thanh toán qua biên giới. Theo kết quả điều tra vào cuối năm 2020, hiệu quả thanh toán qua biên giới là động lực quan trọng để phát hành CBDC, nhất là CBDC bán buôn.

2. Tổng hợp các thiết kế CBDC trong thanh toán qua biên giới
 
Hoạt động thanh toán CBDC qua biên giới có thể được hình dung theo hai cách thức (kịch bản) cơ bản sau đây: (i) CBDC bán lẻ tại một quốc gia có thể sử dụng ở trong và ngoài quốc gia đó, mà không cần sự phối hợp giữa các NHTW phát hành; (ii) Mô hình thanh toán được thiết lập giữa các CBDC khác nhau, thông qua sự phối hợp chặt chẽ giữa các NHTW.  

Trong kịch bản thứ nhất, có thể thiết kế CBDC theo hướng không cản trở địa điểm và người sử dụng thanh toán quốc tế. Nếu chấp nhận thanh toán ẩn danh giống như đối với tiền mặt, thiết kế này sẽ không chấp nhận người không cư trú. Tuy nhiên, trong thực tế, rất ít NHTW cân nhắc hệ thống ẩn danh hoàn toàn. Thay vào đó và trái với tiền mặt, CBDC qua biên giới có thể được thiết kế với những hạn chế nhất định do NHTW phát hành đề ra.

Trong kịch bản thứ hai, việc hợp tác giữa các NHTW trong thiết kế CBDC sẽ hạn chế tình trạng gián đoạn và là cách tiếp cận phù hợp, cho phép công dân của quốc gia đối tác tiếp cận các giải pháp CBDC trong nước hoặc multi-CBDC (mCBDC).  
Trong trường hợp một CBDC được phép tham gia vào hệ thống thanh toán trong nước, người trả và người nhận sẽ sử dụng CBDC này một cách độc lập với địa điểm và nơi cư trú. Khi đó, CBDC có thể được các tổ chức thương mại hay cá nhân sử dụng để thanh toán CBDC từ những quốc gia khác nhau với loại tiền tệ khác nhau, thông qua “ví điện tử” CBDC từ những quốc gia khác nhau.

Trong trường hợp thanh toán mCBDC, nghiệp vụ hoán đổi tiền tệ bán lẻ có thể được tiến hành theo hướng trao đổi một CBDC với CBDC khác. Cụ thể, người trả tiền sử dụng một loại CBDC và người nhận tiền nhận CBDC loại khác. Ngoài ra, CBDC bán buôn có thể được sử dụng làm tài sản thanh toán an toàn theo cơ chế PvP - cả hai để dàn xếp các giao dịch bán lẻ CBDC tiền tệ chéo và các giao dịch tiền tệ chéo trong thanh toán ngoại hối qua biên giới bằng loại tiền do ngân hàng thương mại (NHTM) hay NHTW chỉ định.

Ý tưởng của NHTW về sử dụng CBDC qua biên giới

Kết quả điều tra tiến hành trong quý I/2021 đối với 50 NHTW (18 ngân hàng tại các nước phát triển và 32 ngân hàng tại các nước đang phát triển và mới nổi) về ý tưởng sử dụng CBDC trong thanh toán qua biên giới cho thấy, hầu hết các ngân hàng chưa khẳng định chắc chắn là có phát hành CBDC hay không. 

Cụ thể, trên 25% số ngân hàng cho phép người không cư trú được sử dụng CBDC, gần 20% số ngân hàng chưa xem xét khả năng này nhưng có thể chấp nhận trong tương lai. Chỉ 8% số ngân hàng bắt đầu nghiên cứu sử dụng CBDC bán lẻ phát hành trong nước tại những quốc gia khác, khoảng 1/3 số ngân hàng sẽ tiến hành nghiên cứu vấn đề này trong thời gian tới. Đáng chú ý, ít nhất 1/3 số ngân hàng sẽ rà soát lại những giới hạn qua biên giới nếu một CBDC nào đó được sử dụng rộng rãi trên thị trường trong nước.

Đối với mỗi hệ thống thanh toán, vấn đề cốt lõi là nhận dạng có hiệu quả, góp phần ngăn ngừa gian lận, chống rửa tiền và những hoạt động bất hợp pháp khác. Nhận dạng tốt cũng đòi hỏi phải đảm bảo tiếp cận công bằng cho tất cả người dùng, đây là vấn đề trung tâm trong thiết kế CBDC. Điều này có thể được xử lý bằng cách gắn thiết kế CBDC với nhận dạng điện tử, bảo vệ dữ liệu riêng tư, từng bước mở rộng đối tượng tiếp cận CBDC sang người không cư trú. Những NHTW tham gia việc bố trí những CBDC liên quan có thể phối hợp các quy trình như hiểu khách hàng của bạn (KYC), giám sát AML/CFT, cho phép sử dụng tiền tệ chéo trong thanh toán.

Đặc điểm của các dự án CBDC bán lẻ qua biên giới

 Các dự án sử dụng CBDC trong thanh toán bán lẻ qua biên giới bao gồm, một dự án tại Trung Quốc, hai CBDC đang triển khai tại Bahamas và NHTW Đông Caribe (ECCB). Năm 2014, NHTW Trung Quốc (PBoC) triển khai dự án phát triển e-CNY và hiện đang trong giai đoạn thử nghiệm. Bên ngoài Trung Quốc, e-CNY có thể được kết nối với các hệ thống thanh toán bán buôn và bán lẻ hiện hành. Mục tiêu chủ yếu của e-CNY là sử dụng trong thanh toán bán lẻ trong nước, trong khi khách du lịch và doanh nghiệp có thể đăng ký sử dụng lượng e-CNY nhất định thông qua số điện thoại trong thời gian lưu trú tại Trung Quốc đại lục. Tuy nhiên, nhằm tránh hiệu ứng tràn e-CNY, PBoC cần thỏa thuận với những quốc gia khác, tạo thuận lợi cho việc kết nối e-CNY với những hệ thống bán lẻ khác và quy trình chuyển đổi e-CNY sang những đồng tiền pháp định khác được tiến hành ngay tại biên giới.

PBoC cũng đặt mục tiêu làm việc với khu vực tư nhân nhằm đảm bảo sự tuân thủ các quy định AML/CFT liên quan. Trong tương lai, e-CNY có thể được sử dụng trong thanh toán thương mại sử dụng CNY với các đối tác nước ngoài, nhưng còn tùy thuộc vào kết quả tham vấn với các NHTW và những tổ chức khác. Liên quan đến vấn đề này, Cơ quan Quản lý tiền tệ Hồng Kông đang làm việc với PBoC để sử dụng e-CNY trong thanh toán qua biên giới.

Ngày 20/10/2020, NHTW Bahamas (CBoB) đã giới thiệu “Sand Dollar” dành cho người cư trú với mục tiêu là tăng cường phổ cập tài chính. Sand Dollar chỉ được sử dụng trong nước, không sử dụng đối với người nước ngoài nhận tiền. Khi đến Bahamas, người không cư trú có thể nắm giữ và thanh toán Sand Dollars bằng cách đăng ký ví điện tử Sand Dollars Cấp 1, với giới hạn nắm giữ là 500 Sand Dollars và giới hạn giao dịch 1.500 Sand Dollars/tháng. CBoB cho phép người nắm giữ tài khoản Sand Dollars tích hợp với các tài khoản ngân hàng truyền thống, và sau đó được sử dụng trong thanh toán qua biên giới theo các kênh truyền thống. CBoB tuyên bố, các NHTM chỉ được nhận và trả Bahamas dollars, nên Sand Dollar không tác động đến những hạn chế về tài khoản vốn thanh toán.

Tháng 3/2021, ECCB giới thiệu đề án thử nghiệm CBDC bán lẻ DCash với quy mô lớn, cho phép sử dụng DCash trong mua bán hàng hóa và dịch vụ tại các nước thuộc Liên minh Tiền tệ Đông Caribê (ECCU) với mục tiêu chính sách chủ đạo là phổ cập tài chính do tầm quan trọng của thương mại và chuyển tiền quốc tế đối với các nước ECCU. ECCB cũng bắt đầu thảo luận với những NHTW khác trong khu vực nhằm kết nối DCash với các hệ thống và nền tảng thanh toán, tạo thuận lợi cho thương mại và chuyển tiền trong khu vực. 

Tương tác CBDC bán buôn và bán lẻ

Cùng với khả năng chấp nhận CBDC trong thanh toán bán lẻ qua biên giới, kịch bản thứ hai về sử dụng CBDC ở nước ngoài là kế hoạch thiết lập khả năng tương tác giữa các CBDC quốc gia.

Ở cấp bán buôn, đề án phát triển CBDC phản ánh những nỗ lực gần đây trong việc làm cho các hệ thống thanh toán truyền thống có thể tương tác được với nhau, là cầu nối giữa các nhánh thanh toán phát sinh tại hai quốc gia. Ở cấp bán lẻ, đề án phát triển CBDC đưa ra các giải pháp kết nối thanh toán qua biên giới của người sử dụng cuối cùng và cách sắp xếp này có thể cho phép tiến hành thanh toán CBDC bán lẻ giữa các quốc gia.

Đề án phát triển CBDC đưa ra các phương tiện có thể giảm thiểu rủi ro, xung đột xuyên biên giới và tiền tệ chéo, trong khi vẫn củng cố vai trò của tiền NHTW (là mỏ neo cho hệ thống thanh toán và là tài sản thanh toán ban đầu). Thay vì thiết lập một đơn vị kế toán mới (vốn có thể cạnh tranh với các đồng bản tệ), việc chuẩn bị mCBDC tập trung cao độ vào thiết kế CBDC quốc gia với khung khổ tiếp cận và các lựa chọn có khả năng tương tác nhằm nâng cao hiệu quả thanh toán qua biên giới.

Có thể sử dụng các cấp khác nhau trong hệ thống thanh toán tương thích để nhóm các phương án mCBDC tiềm năng theo ba mô hình mẫu: Hệ thống CBDC tương hợp (mô hình 1); Hệ thống CBDC kết nối với nhau (mô hình 2); Hệ thống mCBDC đơn lẻ (mô hình 3).

Mô hình 1 xem xét khả năng tương tác giữa các hệ thống CBDC riêng rẽ dựa trên tiêu chuẩn quốc tế chung và các mô hình truyền thống về thanh toán qua biên giới. Các tiêu chuẩn kỹ thuật chung (như dạng thức thư điện tử, công nghệ mật mã, yêu cầu về dữ liệu, giao diện người dùng) có thể giảm bớt gánh nặng cho các định chế tài chính khi tham gia hệ thống thanh toán phức tạp. Các tiêu chuẩn quản lý, giám sát và những quy định pháp lý liên quan có thể đơn giản hóa KYC và các quy trình theo dõi giao dịch. Điều này cũng áp dụng với nhiều CBDC như những phương pháp thanh toán khác. Tuy nhiên, nếu không phối hợp hành động chính sách, việc đạt được mức độ tương thích đầy đủ giữa các hệ thống CBDC quốc gia sẽ mất nhiều thời gian.

Mô hình 2 kết hợp các mối liên kết bổ sung, thông qua một giao diện kỹ thuật chung (phân chia thành nhiều giao diện nhỏ) hoặc cơ chế bù trừ thông thường. Một giao diện kỹ thuật phân chia (được hỗ trợ bởi thỏa thuận giữa các hệ thống) cho phép người tham gia (bán buôn và bán lẻ) một hệ thống thực hiện thanh toán với người tham gia hệ thống khác. Mỗi cơ chế bù trừ thông thường có thể sử dụng những cách tiếp cận khác nhau bằng cách kết nối các hệ thống thông qua các tài khoản thanh toán chỉ định. Mặc dù có nhiều lựa chọn sử dụng mô hình này và đầu tư đáng kể, nhưng đều rất khó thực hiện.

Mô hình 3 mô tả phương án phối hợp ở cấp độ cao hơn giữa các NHTW, nó xem xét khả năng sắp xếp một hệ thống mCBDC đơn lẻ giữa các quốc gia. Phương án này được xây dựng dựa trên bộ quy định và hệ thống kỹ thuật đơn lẻ, với một nhóm đơn lẻ người tham gia. Sự phối hợp sâu này có nhiều tiềm năng và cho phép một hệ thống hoạt động hiệu quả với nhiều chức năng, nhưng làm tăng thêm khó khăn về quản trị và kiểm soát (nghĩa là, khả năng tiếp cận rộng rãi có thể góp phần nâng cao hiệu quả thanh toán, nhưng cũng làm tăng thêm rủi ro) cũng như các vấn đề chính sách. Để tạo dựng một hệ thống mCBDC đơn lẻ, có thể áp dụng phương án tạo ra những nền tảng thanh toán đa phương mới.

Sắp xếp CBDC trong thực tế: Những dự án tập trung vào CBDC qua biên giới

Một số NHTW đang tham gia các dự án sử dụng CBDC trong thanh toán qua biên giới và bắt đầu công bố chương trình thử nghiệm để đánh giá các cách sắp xếp CBDC. Phần lớn các dự án tập trung vào việc kết nối các CBDC bán buôn và có thể thực hiện ở cấp bán lẻ. Như vậy, các CBDC do cộng đồng nắm giữ sẽ được giao dịch qua biên giới với khả năng tiếp cận rộng rãi. 

Ba mô hình trên đây có thể được liên kết với những dự án CBDC hiện hành như sau:

Về mô hình 1, việc nâng cao khả năng tương tác giữa các hệ thống CBDC trong nước theo mô hình 1 đang được nhiều NHTW thành viên CPMI xem xét. Tập trung vào việc phối hợp các khung khổ điều chỉnh, theo dõi và giám sát, củng cố dữ liệu chung và thực tiễn thị trường để cải thiện thanh toán qua biên giới.

Về mô hình 2, năm 2019, mô hình kết nối giữa các hệ thống CBDC tập trung vào dự án Jasper-Ubin với sự cộng tác của Cơ quan Tiền tệ Singapore (MAS), NHTW Canada (BoC), ngành tài chính. Là một phần dự án, các mạng lưới CBDC bán buôn thử nghiệm trong nước của MAS và của BoC kết nối với nhau thông qua các hoạt động thanh toán đồng bộ mà không cần đến bên thứ ba hay nền tảng thanh toán chung. Dự án đã thành công trong việc chứng minh cách thức mà CBDC có thể loại trừ được rủi ro thanh toán dưới giả thiết thực tế là các hệ thống CBDC tại mỗi quốc gia sử dụng những nền tảng công nghệ DLT khác nhau. Sau đó, MAS đã mở rộng dự án này để khám phá cách thức phát hành và giao dịch những đồng tiền điện tử phức tạp trên nền tảng đơn lẻ thông thường (mô hình 3). Trong khi đó, các NHTW Pháp, Thụy Sỹ, BIS Innovation Hub và hiệp hội khu vực tư nhân phối hợp nghiên cứu những lợi ích và thách thức tiềm tàng của CBDC bán buôn đối với việc xử lý các giao dịch xuyên biên giới. Dự án Jura thử nghiệm sẽ bao gồm việc trao đổi CBDC bán buôn giữa Euro và Franc Thụy Sỹ thông qua cơ chế thanh toán PvP trên nền tảng DLT. Những giao dịch này sẽ được thực hiện giữa các ngân hàng chỉ định tại Pháp và Thụy Sỹ.

Về mô hình 3, thiết lập một hệ thống mCBDC đơn lẻ, mô hình này tập trung vào một vài dự án phối hợp với BIS Innovation Hub và có sự tham gia của một số NHTW (như Dự án Inthanon-LionRock, Aber, mCBDC Bridge, và Sáng kiến Dunbar). Tại dự án Inthanon-LionRock, thanh toán qua biên giới được tiến hành thông qua “mạng hành lang” hoạt động đồng thời - kết nối hai mạng CBDC bán buôn trong nước riêng rẽ. Tại mỗi bên hành lang, mỗi NHTW phát hành CBDC bán buôn riêng trên mạng thanh toán trong nước và tách khỏi thanh toán qua biên giới. Dự án Dunbar (được hình thành dựa trên kinh nghiệm của dự án Ubin) sẽ khám phá các mô hình liên thông và quản trị khác nhau đối với thanh toán mCBDC qua biên giới, được cho là cơ sở để hình thành mạng lưới thanh toán quốc tế trong tương lai. Hai dự án mCBDC Bridge và Dunbar bao gồm những công nghệ và cổ đông khác nhau, được kỳ vọng sẽ sáng tỏ những vấn đề về quản trị, thực hiện và chính sách liên quan đến thanh toán qua biên giới.

3. Cơ hội và rủi ro liên quan đến thanh toán CBDC qua biên giới
 
Mặc dù thanh toán CBDC qua biên giới đang có những cải thiện nhưng vẫn còn đối mặt với nhiều rào cản. Thanh toán qua biên giới bị thiệt hại do sự chậm trễ và có thể tốn kém do sự tham gia của nhiều trung gian với những múi giờ khác nhau và do quy trình của ngân hàng đại lý. Thêm vào đó, thanh toán qua biên giới còn bị thiệt hại do tốc độ truy xuất nguồn gốc chậm và thiếu minh bạch, dẫn đến những bất đồng liên quan đến việc kiểm tra AML/CFT. Ngoài ra, xu hướng cắt giảm các mối quan hệ qua biên giới giữa các ngân hàng trong thập kỷ qua cũng dẫn đến khả năng một số quốc gia hạn chế tiếp cận với hệ thống thanh toán quốc tế. Cuối cùng, mô hình ngân hàng đại lý truyền thống không có khả năng tương tác và tiêu chuẩn hiệu quả để tạo thuận lợi cho thanh toán qua biên giới.

Cách thức CBDC khắc phục những trở ngại hiện nay

Hệ thống CBDC thích hợp (mô hình 1) có thể đưa ra những phương tiện bổ sung cho thị trường hiện hành để thực hiện các giao dịch sử dụng tiền NHTW qua biên giới. Cùng với việc triển khai các hệ thống thanh toán trong nước thích hợp theo hướng mở và cạnh tranh, hệ thống này có thể cho phép đa dạng hóa các nhóm ngân hàng bán lẻ và phi ngân hàng tiếp cận tiền NHTW để tiến hành thanh toán như tiếp tục đa dạng dịch vụ thanh toán qua biên giới và tiền tệ chéo. 

Các hệ thống CBDC kết nối với nhau (mô hình 2) có thể được xây dựng dựa trên những cải tiến này để tăng thêm mức độ an toàn. Cụ thể là, có thể bao gồm thanh toán PvP thông qua tương tác công nghệ giữa các hệ thống trong nước. Công nghệ mới có thể cho phép cải thiện hệ thống này (mô hình 2) thông qua những phương tiện mới (thí dụ BoC và MAS 2019). Ngoài ra, có thể tăng thêm hiệu quả của cơ chế bù trừ hiện nay khi kết nối với các điểm giao dịch FX.

Cuối cùng, hệ thống mCBDC đơn lẻ (mô hình 3) có thể mang lại hiệu quả tương tự như hệ thống kết nối (mô hình 2), nhưng cần mở rộng thêm. Có thể hợp nhất các điểm giao dịch vào các hệ thống mCBDC, qua đó sẽ giảm bớt mức độ phức tạp, phân đoạn và tập trung trên các thị trường tiền tệ. Mô hình này đã được chấp thuận tại dự án Dunbar và Aber.  Ngoài ra, có thể thiết kế CBDC theo hướng giảm nhẹ nhiều rủi ro, nhất là rủi ro đối tác, tạo thuận lợi cho việc lưu chuyển dòng vốn qua biên giới, nâng cao hiệu quả phân bổ các nguồn vốn.

Tùy theo thiết kế và quy định điều chỉnh, CBDC qua biên giới có thể giảm chi phí nắm giữ, tích trữ và chi tiêu ngoại tệ, góp phần thiết lập các đồng tiền quốc tế hấp dẫn hơn. CBDC do các NHTW nước ngoài phát hành có thể nâng cao địa vị của những đồng tiền quốc tế này với chi phí của đồng tiền khác. Điều này có thể đóng góp vào việc mở rộng thay thế tiền tệ thông qua việc chấp nhận CBDC nước ngoài, nhất là tại những nước có lạm phát cao và tỷ giá biến động mạnh.

Để giảm bớt mức độ thay thế tiền tệ, hợp tác đa phương sẽ đóng vai trò chủ chốt. Theo đó, cần có thỏa thuận theo nguyên tắc cho phép các cơ quan nước ngoài đưa ra tham số của ví điện tử hay mạng lưới để hạn chế thay thế tiền tệ. Tuy nhiên, nguyên tắc thiết kế này cần được phối hợp trên cấp độ toàn cầu. 

Có thể nói, nhiều NHTW đang khám phá những rủi ro, lợi ích và mô hình thiết kế CBDC, tập trung chủ yếu vào nhu cầu trong nước. Mặc dù có ý định phục vụ nhu cầu trong nước nhưng các CBDC sẽ vượt qua giới hạn biên giới. Điều này cần đến sự hợp tác và tìm kiếm giải pháp chung, góp phần cải thiện thanh toán qua biên giới.

Nghiên cứu cũng chỉ ra cách thức mà các CBDC có thể cải thiện thanh toán qua biên giới và những nỗ lực nghiên cứu tiếp theo, đồng thời nhấn mạnh sự cần thiết phải phối hợp đa phương và tầm quan trọng của khả năng tương tác giữa các CBDC. Việc cải thiện những yếu tố liên quan trong chương trình thanh toán qua biên giới cũng sẽ trở thành vấn đề cần thiết đối với việc sử dụng qua biên giới, mặc dù các CBDC có những đặc tính riêng vượt trội so với tiền ảo và những đồng tiền số khác.

         
Xuân Thanh

Nguồn: BIS tháng 7/2021

Bình luận Ý kiến của bạn sẽ được biên tập trước khi đăng. Xin vui lòng gõ tiếng Việt có dấu