Những xu hướng FDI trên thế giới
31/12/2021 3.259 lượt xem
Các biện pháp nhằm kiềm chế sự lây lan của đại dịch Covid-19 đã ảnh hưởng tiêu cực đến dòng đầu tư trực tiếp nước ngoài toàn cầu năm 2021...
 


Sụt giảm FDI toàn cầu có liên quan rất chặt chẽ đến việc gián đoạn trong chuỗi cung ứng toàn cầu do hậu quả của đại dịch Covid-19.

1. Gia tăng quy mô và điều chỉnh chính sách đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI)
 
Các biện pháp nhằm kiềm chế sự lây lan của đại dịch Covid-19 đã ảnh hưởng tiêu cực đến dòng đầu tư trực tiếp nước ngoài toàn cầu năm 2021. Theo Hội nghị Liên hợp quốc về Thương mại và Phát triển (UNCTAD), dòng vốn FDI toàn cầu ước giảm từ 30 - 40% trong giai đoạn 2020 - 2021. Tất cả các lĩnh vực sẽ bị ảnh hưởng, nhưng FDI giảm mạnh và rõ ràng trong các lĩnh vực dịch vụ liên quan đến tiêu dùng như hàng không, khách sạn, nhà hàng, vui chơi giải trí, cũng như các ngành sản xuất và lĩnh vực năng lượng. Sụt giảm FDI toàn cầu có liên quan rất chặt chẽ đến việc gián đoạn trong chuỗi cung ứng toàn cầu do hậu quả của đại dịch.

Ngoài ra, các chính phủ trên thế giới cũng đã tích cực triển khai các chính sách đầu tư ra nước ngoài mới liên quan đến an ninh quốc gia, đồng thời, cố gắng cân bằng các rủi ro bằng các chính sách bảo hộ. Trong năm 2020, các chính phủ khác nhau đã thông qua các biện pháp ở cả cấp quốc gia và quốc tế để giải quyết các hậu quả kinh tế và sức khỏe của đại dịch Covid-19, cũng như bảo vệ các doanh nghiệp khỏi nguy cơ thâu tóm từ nước ngoài.

Các nền kinh tế phát triển chứng kiến ​​mức tăng mạnh nhất về vốn FDI,   lên tới 424 tỷ USD trong giai đoạn từ tháng 1 đến tháng 6/2021 - gấp hơn 3 lần so với thời kỳ đại dịch năm 2020.

Ở châu Âu, một số nền kinh tế lớn đã chứng kiến ​​sự gia tăng đáng kể trong vốn FDI, chỉ còn thấp hơn 5% so với mức trung bình hàng quý trước đại dịch. Theo báo cáo của Hội nghị Liên hiệp quốc về Thương mại và Phát triển (UNCTAD’s Investment Trends Monitor), dòng vốn FDI vào Mỹ đã tăng 90%, nhờ vào sự gia tăng của các thương vụ mua bán và sáp nhập (M&A).

Dòng vốn FDI vào các nền kinh tế đang phát triển cũng tăng đáng kể lên tổng cộng 427 tỷ USD trong 6 tháng đầu năm 2021, với mức tăng trưởng 25% ở Đông và Đông Nam Á, phục hồi gần mức trước đại dịch ở Trung và Nam Mỹ, và tăng trưởng trên khắp châu Phi, Tây và Trung Á.

Trong tổng mức tăng phục hồi, 75% được ghi nhận ở các nền kinh tế phát triển.

Trong nửa đầu năm 2021, so với năm 2020, các quốc gia có thu nhập cao đã tăng hơn gấp đôi dòng vốn FDI của họ với mức tăng 117% và các nền kinh tế thu nhập trung bình tăng 30%, trong khi các nền kinh tế thu nhập thấp ghi nhận mức âm 9%.

Trong nửa đầu năm 2021, dòng vốn FDI toàn cầu đã phục hồi, đạt 852 tỷ USD (Ngân hàng Thế giới - WB, 2021). Con số này đã tăng 78% từ tháng 1 đến tháng 6 so với cùng kỳ năm ngoái, giảm 70% do đại dịch (UNCTAD, 2021).

Nhìn chung, dòng vốn FDI toàn cầu đã giảm 35% vào năm 2020, xuống còn 1 nghìn tỷ USD từ mức 1,5 nghìn tỷ USD của năm 2019; song, được dự kiến ​​sẽ chạm đáy vào năm 2021 và phục hồi tăng 10 - 15% so với năm 2020. Điều này sẽ vẫn khiến dòng vốn FDI năm 2021 trên toàn cầu thấp hơn khoảng 25% so với mức của năm 2019 và thấp hơn 40% so với mức đỉnh năm 2016. Tất cả các thành phần của FDI đều giảm. Sự thu hẹp tổng thể trong hoạt động dự án mới, kết hợp với sự chậm lại trong hoạt động M&A, đã dẫn đến dòng vốn đầu tư cổ phần giảm hơn 50%.

Về định hướng, năm 2021 dòng vốn đầu tư nước ngoài vào các nền kinh tế phát triển giảm 69% (UNCTAD, 2021). Dòng vốn vào châu Âu giảm xuống còn -4 tỷ USD, cho thấy một dòng chảy ra ngoài, so với dòng vốn vào năm 2019 là 344 tỷ USD. Trong khi đó, dòng vốn vào các nền kinh tế đang phát triển giảm 12%, phần lớn là đổ vào Trung Quốc. Dòng đầu tư vào các nước đang phát triển tại châu Á ở mức 476 tỷ USD, giảm 4% so với năm 2019 và chiếm khoảng một nửa trong tổng số 859 tỷ USD dòng vốn đầu tư trực tiếp toàn cầu vào năm 2020. Hoạt động M&A xuyên biên giới nhìn chung vẫn ổn định trong quý đầu tiên của năm 2021 và số lượng các thương vụ M&A được công bố ngày càng tăng, cho thấy tiềm năng tăng trưởng đột biến có thể xuất hiện vào cuối năm 2021.

Các dự báo hiện tại cho thấy, tăng trưởng FDI có thể quay lại vào năm 2022, trở lại mức 1,5 nghìn tỷ USD của năm 2019. Sự phục hồi tương đối khiêm tốn về vốn FDI toàn cầu dự kiến ​​cho năm 2021 phản ánh sự không chắc chắn kéo dài về khả năng tiếp cận vaccine, sự xuất hiện của các đột biến mới của virus và sự chậm trễ trong việc mở cửa trở lại của các ngành kinh tế. Việc tăng chi tiêu cho cả tài sản cố định và tài sản vô hình sẽ không trực tiếp dẫn đến sự phục hồi nhanh chóng của FDI.

Dòng vốn đầu tư FDI vào châu Á sẽ vẫn tăng 8% khi khu vực này đã trở thành một điểm đến hấp dẫn đối với nhà đầu tư quốc tế trong suốt thời kỳ đại dịch. FDI vào châu Phi và châu Mỹ Latinh và Caribe sẽ khó có khả năng phục hồi đáng kể trong tương lai gần. Các khu vực này có nhiều điểm yếu về cơ cấu kinh tế, không gian tài chính eo hẹp và phụ thuộc nhiều hơn vào đầu tư Greenfield (đầu tư mới/đầu tư xanh) dự kiến ​​sẽ vẫn ở mức thấp trong năm 2021.

Các đợt đóng cửa trên khắp thế giới để đối phó với đại dịch Covid-19 đã làm chậm lại các dự án đầu tư đang triển khai và triển vọng suy thoái khiến các doanh nghiệp đa quốc gia phải đánh giá lại các dự án mới.

Các chính phủ đã tích cực hỗ trợ nền kinh tế, bằng cách triển khai hàng loạt các chính sách bao gồm khuyến khích đầu tư để thúc đẩy sản xuất thuốc và thiết bị y tế, hỗ trợ cho các doanh nghiệp và ngành bị ảnh hưởng, các biện pháp để phá vỡ các hạn chế về quyền sở hữu trí tuệ, và các nỗ lực quốc tế để tăng tốc sản xuất vaccine và chia sẻ vaccine xuyên biên giới. Sự thay đổi cách tiếp cận theo các khía cạnh an ninh quốc gia của đầu tư nước ngoài, đặc biệt là của các nền kinh tế phát triển, đã có xu hướng làm mờ đi sự khác biệt giữa đầu tư nước ngoài, thương mại và an ninh quốc gia và phản ánh quan điểm ưu tiên an ninh quốc gia hơn là tập trung thu hút đầu tư nước ngoài. Có thể hiểu, những thay đổi trong công nghệ và nền kinh tế toàn cầu đã khiến việc đánh giá chi phí kinh tế và lợi ích của những thay đổi trong chính sách đầu tư nước ngoài dựa trên lý do an ninh quốc gia trở nên khó khăn hơn.

Bảng dưới đây tổng hợp một số chính sách liên quan đến đầu tư nước ngoài được các quốc gia áp dụng trong suốt thời gian diễn ra đại dịch vừa qua:

Bảng 1: Luật sàng lọc đầu tư nước ngoài được áp dụng trong đại dịch Covid-19



 

Theo UNCTAD, các thành viên EU đã độc lập sửa đổi luật hiện hành hoặc thông qua các quy tắc mới để mở rộng việc xem xét các khoản đầu tư nước ngoài vì lý do an ninh quốc gia, đặc biệt là các quy định liên quan đến việc mua lại các công ty liên quan đến sản xuất chăm sóc y tế và sức khỏe. Ngoài ra, Úc, Canada và Nhật Bản đã mở rộng phạm vi đầu tư nước ngoài mà họ sàng lọc. Trong một số trường hợp, những thay đổi về chính sách bao gồm việc tăng cường sàng lọc đầu tư nước ngoài đối với đầu tư nước ngoài vì lý do “lợi ích cộng đồng” có thể vẫn được duy trì sau khi đại dịch kết thúc.

Theo UNCTAD, một số yếu tố tạo ra sự không chắc chắn và rủi ro cho hoạt động đầu tư FDI trong thời gian tới, bao gồm thời gian xảy ra đại dịch, tiêm chủng ở các nước đang phát triển, tốc độ thực hiện đầu tư cơ sở hạ tầng, tình trạng thiếu lao động, tắc nghẽn chuỗi cung ứng, giá năng lượng và áp lực lạm phát.

Hình 1: Nguồn vốn FDI phục hồi không đều (nửa đầu năm 2021 so với năm 2020) (đơn vị: %)
 

2. Sự chuyển hướng dòng vốn đầu tư vào các nước phát triển
 
Ở các nền kinh tế phát triển, phản ứng ban đầu đối với cú sốc Covid-19, theo lịch sử chính sách được sử dụng trong các cuộc khủng hoảng trước đó, là đẩy vào thị trường tài chính các chính sách nới lỏng định lượng mới. Tuy nhiên, các chính phủ ở các nền kinh tế phát triển đã sớm nhận ra vấn đề, vì các cuộc phong tỏa gây ra một tác động ngược lên kinh tế đòi hỏi các biện pháp có mục tiêu và phối hợp để bảo vệ cuộc sống và sinh kế của người dân. Các ngân hàng trung ương tiếp tục bơm thanh khoản, nhưng không giống như trong năm 2007 - 2009, các chính phủ cũng tăng chi tiêu của họ lên mức chưa từng thấy kể từ Thế chiến thứ 2. Trong quá trình này, các quan điểm chính sách bất khả xâm phạm trước đây đã từ bỏ. Mặc dù vậy, sự sụt giảm sản lượng trong quý 2 và quý 3 năm 2020 là chưa từng có; ngay cả khi các nền kinh tế bắt đầu mở cửa và niềm tin quay trở lại, sự phục hồi trở lại được đánh dấu bằng sự không đồng đều đáng kể giữa các ngành, nhóm thu nhập và khu vực. Hơn nữa, sự bất bình đẳng về thu nhập và tài sản xuất hiện trong bốn thập kỷ qua, nếu có, ngày càng gia tăng, trong đó, chủ sở hữu tài sản tài chính và kỹ thuật số thu được lợi nhuận lớn nhất từ việc phục hồi.

Tại EU, sau một thời gian điều chỉnh giảm - sự điều chỉnh góp phần giảm mất cân bằng toàn cầu - thặng dư tài khoản vãng lai tính theo phần trăm GDP được dự báo sẽ trở lại mức trước đại dịch là 3% trong năm nay. Vào năm 2023, thặng dư dự kiến sẽ tăng lên 3,2% GDP. Với sự phục hồi dự kiến của du lịch, thặng dư ngày càng tăng trong tài khoản dịch vụ được coi là yếu tố đóng góp chính. Ngoài ra, lợi tức đầu tư của EU ra nước ngoài sẽ phục hồi cùng với sự phục hồi của thu nhập toàn cầu.

Triển vọng đầu tư vào cơ sở hạ tầng là tốt do các gói kích thích Covid-19, nhưng đầu tư vào công nghiệp vẫn còn yếu. Và trong khi các quốc gia có thu nhập cao tăng gấp đôi dòng vốn FDI hàng quý, các nền kinh tế thu nhập thấp lại bị sụt giảm thêm 9%.

3. Tái định vị dòng vốn đầu tư vào các nước đang phát triển
 
Các nước đang phát triển bị ảnh hưởng đặc biệt nặng nề bởi hoạt động kinh tế bị khóa toàn cầu. Nó gây ra một loạt các cú sốc liên kết với nhau, tạo ra các chu kỳ kinh tế luẩn quẩn bên cạnh các lỗ hổng nợ hiện có, khiến hầu hết các khu vực rơi vào suy thoái sâu và một số quốc gia rơi vào tình trạng vỡ nợ. Bất chấp việc thắt chặt tài khóa và gánh nặng nợ gia tăng, các nước đang phát triển vẫn phải tự mình xoay sở cuộc khủng hoảng, buộc phải cắt giảm sâu việc làm và dịch vụ công. Việc dòng vốn luân chuyển nhanh hơn dự kiến và giá hàng hóa phục hồi, khi các nền kinh tế phát triển bị cấm vận được dỡ bỏ, đã ngăn chặn tình huống xấu nhất có thể xảy ra. Tuy nhiên, tăng trưởng ở hầu hết các nước đang phát triển vẫn còn yếu, các khoản nợ lớn vượt mức thậm chí còn lớn hơn, trong khi các biến thể của virus đe dọa làm sống lại các làn sóng đại dịch mới sẽ làm ảnh hưởng đến thành quả hiện tại và dễ gây ra những tổn thương cho các nền kinh tế. Ngay cả khi đại dịch được ngăn chặn thì nỗi lo về lãi suất cao hơn cũng làm suy yếu triển vọng phát triển.

Niềm tin ngày càng tăng của nhà đầu tư thể hiện rõ nhất ở cơ sở hạ tầng, được thúc đẩy bởi các điều kiện tài chính dài hạn thuận lợi, các gói kích thích phục hồi và các chương trình đầu tư ra nước ngoài.

Các giao dịch tài trợ dự án quốc tế đã tăng 32% về số lượng (74% về giá trị), với mức tăng đáng kể ở hầu hết các khu vực thu nhập cao và ở châu Á và Nam Mỹ.

Ngược lại, niềm tin của nhà đầu tư vào ngành và chuỗi giá trị toàn cầu vẫn còn lung lay. Các thông báo về dự án đầu tư Greenfield tiếp tục đi xuống (-13% về số lượng, -11% về giá trị trong ba quý đầu tiên năm 2021).

Sự phục hồi của dòng vốn đầu tư vào các lĩnh vực liên quan đến Mục tiêu Phát triển Bền vững (SDGs) ở các nước đang phát triển, vốn bị thiệt hại đáng kể trong thời kỳ đại dịch với mức giảm hai con số trên hầu hết các lĩnh vực, vẫn còn mong manh.

Tổng giá trị của các khoản đầu tư vào lĩnh vực Greendfield được công bố và các thương vụ tài trợ dự án tăng 60%, nhưng chủ yếu là do một số ít các thương vụ rất lớn trong ngành điện (tổng số các dự án đầu tư liên quan đến SDG ở các nền kinh tế đang phát triển vẫn giảm 6%) .

Tài chính dự án quốc tế trong lĩnh vực năng lượng tái tạo và tiện ích tiếp tục là lĩnh vực tăng trưởng mạnh nhất.

Tuy nhiên, số lượng các dự án đầu tư liên quan đến SDG ở các nước kém phát triển nhất tiếp tục giảm mạnh. Các thông báo về dự án Greenfield mới giảm 51% và các giao dịch tài chính cho dự án cơ sở hạ tầng giảm 47%. Con số này sau khi giảm 28% ở cả hai loại hình vào năm 2020.

Các ưu tiên kinh tế vĩ mô cần thiết để khắc phục những hạn chế và thách thức đặt ra, cần dựa trên các chính sách hỗ trợ đầu tư, cũng như sự hợp tác và phối hợp chiến lược giữa khu vực tư nhân và chính phủ. Thứ nhất, cần từ bỏ việc thắt lưng buộc bụng như một khuôn khổ chính sách mặc định để quản lý tổng cầu. Thứ hai, cần giám sát sự phụ thuộc lẫn nhau giữa các quyết định đầu tư và sản xuất. Các quyết định này liên quan đến việc xác định các lĩnh vực có những trở ngại lớn nhất đối với đầu tư; làm thế nào hiệu quả để kênh đầu tư công và tư nhân vào các hoạt động năng suất cao; và giám sát xem liệu các khoản đầu tư này có được quản lý theo cách để duy trì một tương lai lương cao cho người dân và tăng năng suất lâu dài hay không. Việc kỷ luật đầu tư như vậy được đảm bảo thông qua các tiêu chuẩn hoạt động có thể giám sát được và việc rút lại sự hỗ trợ của chính phủ nếu không đạt được mục tiêu trong một khoảng thời gian nhất định, cũng như kiểm tra kỹ lưỡng việc đòi tiền thuê từ phía các cơ quan chức năng và doanh nghiệp.

Đối với lĩnh vực đầu tư Greendfield, một lợi ích chính của việc mở rộng tài khóa xanh là tạo ra nhiều việc làm hơn. Điều này có được nhờ mở rộng các lĩnh vực carbon thấp có xu hướng thâm dụng nhiều lao động hơn so với việc thu hẹp các lĩnh vực thải nhiều carbon. Ước tính, việc tăng cường sử dụng năng lượng tái tạo, hiệu quả năng lượng và tăng cường lưới điện sẽ tạo ra khoảng 19 triệu việc làm mới trên toàn thế giới vào năm 2050 (T. Phương 2021).

Theo truyền thống, chuyển đổi cơ cấu là cách thành công nhất để đạt được tăng trưởng kinh tế bền vững và nâng cao mức sống, các nền kinh tế phát triển hiện nay  cũng như một số nước công nghiệp muộn thành công ở Đông Á đã thực hiện con đường này. Tuy nhiên, mô hình sử dụng nhiều nhiên liệu hóa thạch truyền thống của họ không thể đáp ứng nguyện vọng của nhiều quốc gia đang phát triển khác đang cố gắng nâng cao thu nhập quốc dân của họ thông qua công nghiệp hóa vì nó sẽ đưa lượng khí thải và tiêu thụ tài nguyên vượt quá giới hạn khả năng sinh thái của hành tinh.

Việc chuyển đổi sang năng lượng tái tạo và tiến bộ với nền kinh tế vòng tròn có thể làm tăng phạm vi công nghiệp hóa cho một loạt các nền kinh tế đang phát triển vì chúng tách rời các hoạt động kinh tế với tài nguyên thiên nhiên. Các nguồn năng lượng tái tạo - chẳng hạn như mặt trời, gió và nước - được phân bổ công bằng hơn so với các mỏ nhiên liệu hóa thạch có thể khai thác kinh tế và nền kinh tế tuần hoàn cho phép khai thác tài nguyên từ các sản phẩm đã qua sử dụng và chất thải, do đó giảm số lượng tài nguyên cần cho sản xuất.
 

TS. Nguyễn Thị Kim Nhã

Tổng công ty Bảo hiểm Bưu điện

Bình luận Ý kiến của bạn sẽ được kiểm duyệt trước khi đăng. Vui lòng gõ tiếng Việt có dấu
Đóng lại ok
Bình luận của bạn chờ kiểm duyệt từ Ban biên tập
Chuyển đổi số ngành Ngân hàng - Kinh nghiệm quốc tế và bài học đối với Việt Nam
Chuyển đổi số ngành Ngân hàng - Kinh nghiệm quốc tế và bài học đối với Việt Nam
25/05/2022 117 lượt xem
Trong bối cảnh cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư (CMCN 4.0), chuyển đổi số ngành Ngân hàng đã trở thành xu hướng tất yếu trên thế giới.
Cơ chế thử nghiệm trong hoạt động công nghệ tài chính: Kinh nghiệm quốc tế và một số đề xuất đối với Việt Nam
Cơ chế thử nghiệm trong hoạt động công nghệ tài chính: Kinh nghiệm quốc tế và một số đề xuất đối với Việt Nam
24/05/2022 188 lượt xem
Vào năm 1972, Fintech lần đầu tiên được giới thiệu bởi Bettinger và được định nghĩa rằng, đây là sự kết hợp giữa kinh nghiệm và chuyên môn của ngân hàng với công nghệ thông tin và kể từ đó, có nhiều nghiên cứu đã mở rộng liên quan đến Fintech.
Điều hành chính sách tiền tệ trong bối cảnh đại dịch Covid-19 của  Ngân hàng Cộng hòa dân chủ nhân  dân Lào
Điều hành chính sách tiền tệ trong bối cảnh đại dịch Covid-19 của Ngân hàng Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào
23/05/2022 258 lượt xem
Đại dịch Covid-19 bùng phát cuối năm 2019, đầu năm 2020 đã gây ra những tác động tiêu cực chưa từng có đối với sức khỏe và tính mạng con người trên toàn cầu. Nhiều nước thực hiện các biện pháp phòng, chống dịch nghiêm ngặt do hạn chế về nguồn vắc-xin, vì thế, khiến nền kinh tế toàn cầu rơi vào suy thoái nghiêm trọng.
Kinh nghiệm quốc tế đối với quản lý tài sản mã hóa
Kinh nghiệm quốc tế đối với quản lý tài sản mã hóa
10/05/2022 495 lượt xem
Đại đa số các quốc gia đều khẳng định rằng, về mặt pháp lý, tài sản mã hóa (TSMH) không đáp ứng được các tiêu chuẩn để có thể được xem là tiền pháp định. Một số quốc gia cấm toàn bộ TSMH và các giao dịch liên quan nhưng một số quốc gia khác công nhận một đặc tính nào đó của TSMH và công nhận tính hợp pháp của các giao dịch liên quan.
Liệu Nhân dân tệ có thể cạnh tranh với USD trong hệ thống tài chính toàn cầu?
Liệu Nhân dân tệ có thể cạnh tranh với USD trong hệ thống tài chính toàn cầu?
04/05/2022 437 lượt xem
Các công ty phương Tây đang rời khỏi Nga, đồng nghĩa với việc thương mại với Trung Quốc sẽ mở rộng. Một số ngân hàng Nga đã đề nghị khách hàng mở tài khoản bằng tiền Trung Quốc. Nền kinh tế Trung Quốc là một trong những nền kinh tế lớn nhất thế giới. Liệu Nhân dân tệ (CNY) có thể cạnh tranh với USD trong hệ thống tài chính toàn cầu?
Fintech và hoạt động tài trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa tại châu Á
Fintech và hoạt động tài trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa tại châu Á
26/04/2022 367 lượt xem
Trong bối cảnh SMEs đang phải vật lộn để có được các nguồn tài chính thông thường, những đổi mới công nghệ tài chính (Fintech) mới nổi ở châu Á đã thay đổi các mô hình truyền thống để giảm bớt khó khăn cho SMEs tiếp cận được các nguồn vốn.
Tiền kỹ thuật số ngân hàng trung ương và vị thế quốc tế của đồng Euro
Tiền kỹ thuật số ngân hàng trung ương và vị thế quốc tế của đồng Euro
21/04/2022 478 lượt xem
Trên thế giới, nhiều ngân hàng trung ương (NHTW) đang trong quá trình nghiên cứu để chuẩn bị phát hành tiền kỹ thuật số NHTW (Central Bank Digital Currency hay CBDC). NHTW châu Âu (ECB) hiện cũng đang nghiên cứu về đồng tiền chung châu Âu (Euro) kỹ thuật số.
Đầu tư trực tiếp ra nước ngoài và cán cân thu nhập nhìn từ kinh nghiệm của Nhật Bản và Malaysia
Đầu tư trực tiếp ra nước ngoài và cán cân thu nhập nhìn từ kinh nghiệm của Nhật Bản và Malaysia
21/04/2022 933 lượt xem
Việt Nam là một quốc gia đang phát triển trong giai đoạn đầu của hoạt động thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI). Hoạt động đầu tư ra nước ngoài (OFDI) của các doanh nghiệp Việt Nam hiện chỉ mới bắt đầu và có quy mô rất nhỏ khi so sánh với dòng vốn nước ngoài thu hút vào Việt Nam.
Kinh nghiệm quốc tế về thúc đẩy tài chính toàn diện của tổ chức công đoàn và một số gợi ý cho Công đoàn  Ngân hàng Việt Nam
Kinh nghiệm quốc tế về thúc đẩy tài chính toàn diện của tổ chức công đoàn và một số gợi ý cho Công đoàn Ngân hàng Việt Nam
19/04/2022 422 lượt xem
Ngày 22/01/2020, Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 149/QĐ-TTg về việc phê duyệt Chiến lược tài chính toàn diện quốc gia đến năm 2025, định hướng đến năm 2030 (Chiến lược).
Cho vay ngang hàng - Phương thức tiếp cận vốn mới cho doanh nghiệp nhỏ và vừa trong tương lai
Cho vay ngang hàng - Phương thức tiếp cận vốn mới cho doanh nghiệp nhỏ và vừa trong tương lai
15/04/2022 713 lượt xem
Cho vay ngang hàng (P2P Lending) đã phát triển trên toàn cầu nói chung và tại Việt Nam nói riêng như một phương thức tiếp cận vốn mới cho các doanh nghiệp nhỏ và vừa (DNNVV).
Tác động kép từ dịch Covid-19 và xung đột Nga - Ukraine đến giá xăng dầu - Giải pháp nào giúp doanh nghiệp  phục hồi sản xuất, kinh doanh
Tác động kép từ dịch Covid-19 và xung đột Nga - Ukraine đến giá xăng dầu - Giải pháp nào giúp doanh nghiệp phục hồi sản xuất, kinh doanh
14/04/2022 699 lượt xem
Trong khi dịch bệnh Covid-19 bùng phát trở lại khiến hàng chục ngàn doanh nghiệp nước ta phải ngừng sản xuất, rời thị trường do không “trụ” được trước làn sóng thứ tư của đại dịch thì xảy ra “chiến dịch quân sự đặc biệt” của Nga với Ukraine khiến giá xăng dầu liên tục tăng cao.
Nền kinh tế toàn cầu: sự phục hồi nhiều trắc trở
Nền kinh tế toàn cầu: sự phục hồi nhiều trắc trở
12/04/2022 366 lượt xem
Giá cả hàng hóa tăng cao và sự hỗn loạn trong chuỗi cung ứng do khủng hoảng địa chính trị đang khiến lạm phát và các nền kinh tế trên thế giới tăng trưởng chậm lại. Những lo ngại gần đây về sự phục hồi quá chậm sau đại dịch Covid-19 đang nhường chỗ cho nguy cơ đình lạm (hiện tượng kinh tế tăng trưởng thấp trong khi lạm phát và thất nghiệp tăng cao) toàn cầu.
Triển vọng phát triển tiền kỹ thuật số của Ngân hàng Trung ương
Triển vọng phát triển tiền kỹ thuật số của Ngân hàng Trung ương
08/04/2022 651 lượt xem
Trong hai năm qua, đại dịch Covid-19 đã trở thành tác nhân chủ yếu thúc đẩy các hoạt động giao dịch trực tuyến, tiếp thêm động lực cho các đồng tiền ảo vốn đang tăng giá mạnh trong những năm gần đây.
Kinh tế thế giới trước tác động của xung đột quân sự Nga - Ukraine
Kinh tế thế giới trước tác động của xung đột quân sự Nga - Ukraine
01/04/2022 920 lượt xem
Ngày 24/02/2022, Tổng thống Nga Vladimir Putin ra lệnh triển khai chiến dịch quân sự đặc biệt với lý do là bảo vệ người dân Donetsk và Luhansk tại Donbass, miền đông Ukraine. Xu hướng leo thang xung đột tại Ukraine đã làm trầm trọng thêm tình trạng lạm phát, vốn đang tăng cao trên toàn cầu do tác động tiêu cực của đại dịch Covid-19, bắt đầu từ giá dầu, thực phẩm, kim loại và nguyên liệu đầu vào của quá trình sản xuất...
Xung đột Nga - Ukraine:  Kinh tế châu Âu liệu có rơi vào suy thoái?
Xung đột Nga - Ukraine: Kinh tế châu Âu liệu có rơi vào suy thoái?
29/03/2022 445 lượt xem
Mặc dù nhiều doanh nghiệp ở châu Âu vẫn đang tiếp tục phục hồi sau hậu đại dịch Covid-19 nhưng cuộc xung đột giữa Nga và Ukraine đã làm tăng thêm một cú sốc về nguồn cung tại đây.
Giá vàngXem chi tiết

GIÁ VÀNG - XEM THEO NGÀY

Khu vực

Mua vào

Bán ra

HÀ NỘI

Vàng SJC 1L

68.000

69.020

TP.HỒ CHÍ MINH

Vàng SJC 1L

68.000

69.000

Vàng SJC 5c

68.000

69.020

Vàng nhẫn 9999

54.150

55.150

Vàng nữ trang 9999

53.950

54.750


Ngoại tệXem chi tiết
TỶ GIÁ - XEM THEO NGÀY 
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 23.030 23.340 26.488 27.866 31.023 32.318 204.16 214.87
BIDV 23.070 23.350 26.575 27.683 31.139 32.402 203.99 213.29
VietinBank 23.040 23.340 26.607 27.727 31.399 32.409 204.47 213.47
Agribank 23.050 23.330 26.787 27.493 31.334 32.117 205.87 211.70
Eximbank 23.080 23.300 26.871 27.398 31.480 32.096 206.75 210.81
ACB 23.090 23.300 26.814 27.429 31.401 31.993 206.11 211.05
Sacombank 23.058 23.550 26.953 27.513 31.568 32.084 206.29 212.66
Techcombank 23.054 23.345 26.643 27.863 31.118 32.281 205.24 214.28
LienVietPostBank 23.100 23.345 26.875 27.928 31.504 31.988 207.19 213.97
DongA Bank 23.110 23.300 26.930 27.410 31.560 32.110 203.80 210.30
(Cập nhật trong ngày)
Lãi SuấtXem chi tiết
(Cập nhật trong ngày)
Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,20
0,20
-
3,00
3,00
3,30
4,00
4,00
5,50
5,30
BIDV
0,10
-
-
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,50
5,50
VietinBank
0,10
0,20
0,20
0,20
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
Eximbank
0,10
0,20
0,20
0,20
3,40
3,50
3,70
5,20
5,40
5,70
6,00
ACB
-
0,20
0,20
0,20
2,90
3,00
3,10
4,20
4,60
5,30
6,00
Sacombank
0,03
-
-
-
3,30
3,40
3,60
4,60
4,70
5,80
6,20
Techcombank
0,03
-
-
-
2,55
2,55
2,85
4,00
3,90
4,70
4,60
LienVietPostBank
0,10
0,10
0,10
0,10
3,10
3,10
3,40
4,20
4,40
5,50
5,50
DongA Bank
0,20
0,20
0,20
0,20
3,50
3,50
3,50
5,40
5,50
6,00
6,30
Agribank
0,10
-
-
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,50
5,50

Liên kết website
Bình chọn trực tuyến
Nội dung website có hữu ích với bạn không?