Ngân hàng với phát triển nông nghiệp, nông thôn, nông dân Việt Nam
24/02/2017 3.108 lượt xem
 
 
Nông nghiệp, nông thôn, nông dân là lĩnh vực được Đảng và Nhà nước đặc biệt quan tâm.Dấu ấn lớn nhất trong năm 2015 là Chính phủ đã ban hành Nghị định số 55/2015/NĐ-CP về chính sách tín dụng phục vụ phát triển nông nghiệp, nông thôn có hiệu lực từ ngày 25/7/2015 thay thế Nghị định số 41/2010/NĐ-CP ngày 12/4/2010 của Chính phủ.

Thực hiện chủ trương của Chính phủ, trong suốt giai đoạn vừa qua, ngành ngân hàng đã luôn đồng hành, gắn bó mật thiết với “ba nông” (nông nghiệp, nông thôn, nông dân),  từ việc hoạch định chính sách của Ngân hàng Nhà nước (NHNN) đến việc triển khai, thực thi  của các tổ chức tín dụng (TCTD) trên mọi lĩnh vực. Trong điều hành chính sách, NHNN luôn xác định nông nghiệp, nông thôn là một trong 5 lĩnh vực ưu tiên và đã chỉ đạo các TCTD tập trung nguồn vốn cho vay, thực hiện các giải pháp đẩy mạnh cho vay hiệu quả phát triển nông nghiệp, nông thôn nhằm giúp người dân, doanh nghiệp dễ dàng tiếp cận vốn vay phục vụ sản xuất kinh doanh. Có thể nhìn lại những “điểm mới” và “điểm sáng” trong chính sách mà năm 2015 NHNN đã nỗ lực xây dựng ban hành để tạo điều kiện tháo gỡ khó khăn, vướng mắc cho nông nghiệp, nông thôn, nông dân, cụ thể:

- Ngay sau khi có Nghị định 55/2015/NĐ-CP về chính sách tín dụng phục vụ phát triển nông nghiệp, nông thôn của Chính phủ, NHNN đã kịp thời ban hành Thông tư số 10/2015/TT-NHNN  ngày 22/7/2015, với 4 điểm mới nổi bật là: (i) Đối tượng cá nhân, hộ kinh doanh tham gia kinh doanh sản xuất nông nghiệp dù ngoài địa bàn cũng được hưởng chính sách tín dụng cho nông nghiệp, nông thôn; (ii) Mức cho vay không thế chấp có thể tối đa lên đến 100 triệu đồng với cá nhân, 300 triệu đồng với hộ kinh doanh, lên đến 3 tỷ đồng đối với Liên hiệp Hợp tác xã; (iii) Có quy định riêng về chính sách tín dụng khuyến khích đối với mô hình liên kết chuỗi giá trị và ứng dụng công nghệ cao trong sản xuất nông nghiệp; (iv) Có quy định về nguyên tắc và quy trình xử lý rủi ro do gặp phải thiên tai, dịch bệnh trên diện rộng.

- Nghị định 89/2015/NĐ-CP ngày 07/10/2015 về sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định 67/2014/NĐ-CP ngày 07/07/2014 về một số chính sách phát triển thủy sản, có hiệu lực từ ngày 25/11/2015 nhằm tháo gỡ những vướng mắc, tạo cơ hội cho ngư dân tiếp cận vốn vay tốt hơn để đẩy mạnh khai thác hải sản xa bờ, góp phần bảo vệ chủ quyền biển, đảo Tổ quốc. Theo đó, điểm mới nổi bật nhất là thời hạn cho vay đã được sửa đổi. Thay vì quy định thời hạn cho vay 11 năm, Nghị định 89 đã quy định thời hạn cho vay đối với từng trường hợp. Cụ thể, thời hạn cho vay hỗ trợ lãi suất 11 năm đối với trường hợp đóng mới tàu vỏ gỗ hoặc nâng cấp tàu; 16 năm đối với đóng mới tàu vỏ thép hoặc vỏ vật liệu mới. Ngoài ra, Nghị định 89 cũng tạo thuận lợi hơn cho ngư dân như: được hỗ trợ 100% chi phí thiết kế tàu vỏ thép, vật liệu mới có công suất từ 400CV trở lên; năm đầu tiên sau khi giải ngân, chủ tàu được miễn lãi và chưa phải trả nợ gốc. Theo đó, NHNN đã ban hành Thông tư số 21/2015/TT-NHNN sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 22/2014/TT-NHNN ngày 15/8/2014 của NHNN hướng dẫn thực hiện quy định tại Nghị định 67/2014/NĐ-CP.

Song song với việc ban hành chính sách, NHNN đã sát sao chỉ đạo các TCTD thực hiện hỗ trợ ưu tiên cho lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn, nông dân. Nhờ đó, trong những năm qua, tín dụng nông nghiệp của hệ thống ngân hàng luôn có tỷ trọng dao động ở mức xung quanh 10%, tăng bình quân trên10%/năm. Các chương trình tín dụng mục tiêu của hệ thống ngân hàng luôn được ưu tiên thực hiện và đạt được nhiều kết quả đáng ghi nhận:

- Cho vay lĩnh vực lúa, gạo: Dư nợ cho vay lúa gạo toàn quốc ước đạt khoảng 31.500 tỷ đồng, tăng 12% so với 31/12/2014, trong đó, dư nợ tại 13 tỉnh Đồng bằng sông Cửu Long đạt 25.000 tỷ đồng, tăng 11,4% so với 31/12/2014.

- Cho vay đối với lĩnh vực thủy sản: Dư nợ cho vay thủy sản toàn quốc đến 31/12/2015 ước đạt 66.800 tỷ đồng, tăng 9,5% so với 31/12/2014. Kết quả triển khai thực hiện theo văn bản số 1149/TTg-KTN ngày 08/8/2012 của Thủ tướng Chính phủ về chính sách cho vay đối với chăn nuôi và thủy sản của 5 NHTM: Dư nợ cho vay đến cuối tháng 12/2015 ước đạt 45.500 tỷ đồng, tăng 12% so với 31/12/2014. Dư nợ được cơ cấu đến cuối tháng 12/2015 đối với lĩnh vực tôm và cá tra khoảng 2.000 tỷ đồng. Theo Quyết định số 540/QĐ-TTg ngày 16/4/2014 của Thủ tướng Chính phủ về chính sách tín dụng đối với người nuôi tôm và cá tra gặp khó khăn: Đã có 6 ngân hàng thực hiện khoanh nợ cho 11.668 khách hàng với tổng số tiền khoanh nợ là trên 777,52 tỷ đồng tại 9 tỉnh, thành phố.

- Cho vay tái canh cà phê tại Agribank: Đến 30/11/2015, dư nợ cho vay tái canh cà phê tại Agribank là 733,36 tỷ đồng, tái canh diện tích 8.299ha, đối với 6.206 khách hàng được vay vốn theo chương trình.

- Cho vay theo chính sách hỗ trợ nhằm giảm tổn thất trong nông nghiệp theo Quyết định số 68/2013/QĐ-TTg ngày 14/11/2013 của Thủ tướng Chính phủ: Đến cuối tháng 12/2015, tổng dư nợ cho vay ước đạt khoảng 3.500 tỷ đồng, tăng 89,4% so với 31/12/2014, trong đó: (i) Dư nợ cho vay hỗ trợ lãi suất đạt 3.140 tỷ đồng, tăng 112% so với cuối năm 2014; (ii) Dư nợ cho vay theo lãi suất tín dụng đầu tư đạt 360 tỷ đồng, giảm 1,9% so với cuối năm 2014.

- Cho vay đóng mới, nâng cấp tàu theo Nghị định 67: Đã có 27/28 tỉnh, thành phố có biển đã phê duyệt được danh sách các chủ tàu đủ điều kiện vay vốn để đóng mới, nâng cấp 1.262 tàu trong đó: đóng mới 1.108 tàu (đạt 48,5% tổng số tàu cần đóng mới 2.284 tàu theo Quyết định số 3602/QĐ-BNN-TCTS của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn), nâng cấp 154 tàu. Thành phố Hồ Chí Minh chưa phê duyệt danh sách các chủ tàu đủ điều kiện vay vốn theo Nghị định 67. Hiện nay, 4 NHTM Nhà nước đã nhận được 534 bộ hồ sơ của chủ tàu tại 26/27 tỉnh, thành phố và đã ký hợp đồng tín dụng để đóng mới, nâng cấp 301 tàu (đóng mới 296 tàu, nâng cấp 5 tàu), với tổng số tiền các ngân hàng cam kết cho vay trên 3.150 tỷ đồng. Dư nợ đến thời điểm báo cáo đạt 1.120 tỷ đồng. Mức cho vay theo nhu cầu của khách hàng từ 60% - 95% tổng giá trị đầu tư đóng mới, nâng cấp con tàu, tài sản bảo đảm là chính con tàu. Trong 07 tháng trở lại đây, việc ký kết các hợp đồng tín dụng của ngư dân đã tăng lên đáng kể (số lượng hợp đồng tín dụng được ký kết tăng hơn 4 lần so với thời điểm 30/6/2015). Đến nay, đã có 60 con tàu hoàn thành đóng mới, nâng cấp, được hạ thủy và đưa vào hoạt động.

Kết quả cho vay vốn lưu động: Các NHTM đã thực hiện giải ngân cho 179 lượt khách hàng với tổng số tiền gần 58 tỷ đồng tại các tỉnh Quảng Ngãi, Bình Định, Tiền Giang, Phú Yên, Thừa Thiên Huế, Khánh Hòa.

- Xử lý tháo gỡ khó khăn tín dụng cho hộ nuôi tôm, cá tra theo Quyết định số 540/QĐ-TTg ngày 16/4/2014 của Thủ tướng Chính phủ: Đã có 6 ngân hàng thực hiện khoanh nợ cho 11.668 khách hàng với tổng số tiền khoanh nợ là trên 777,52 tỷ đồng tại 9 tỉnh, thành phố. Ở thời điểm hiện tại, NHNN đã thực hiện tái cấp vốn đối với 02 ngân hàng (SCB, Agribank) với số tiền 458,25 tỷ đồng và đang tiếp tục xem xét tái cấp vốn cho các NHTM khác thực hiện khoanh nợ cho các hộ dân nuôi tôm và cá tra gặp khó khăn trong việc trả nợ ngân hàng. Đến 30/11/2015, các TCTD đã thực hiện cơ cấu lại thời hạn trả nợ theo Quyết định số 540/QĐ-TTg đối với 39 khách hàng với dư nợ đạt khoảng 30 tỷ đồng, trong đó gia hạn nợ 27 tỷ đồng và điều chỉnh kỳ hạn trả nợ 3 tỷ đồng.

- Chương trình tín dụng cho vay theo chuỗi giá trị và ứng dụng công nghệ cao theo Nghị quyết số 14/NQ-CP ngày 5/3/2014 của Chính phủ: NHNN đã phối hợp với Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Bộ Khoa học và Công nghệ ban hành Quyết định số 1050/QĐ-NHNN ngày 28/5/2014 về chương trình cho vay thí điểm phục vụ phát triển nông nghiệp nhằm khuyến khích phát triển hợp tác, liên kết sản xuất gắn với tiêu thụ sản phẩm, xây dựng cánh đồng lớn; khuyến khích ứng dụng công nghệ cao trong sản xuất nông nghiệp và thúc đẩy xuất khẩu. Kết quả cụ thể thực hiện chương trình này: Chương trình đã lựa chọn 31 dự án của 28 doanh nghiệp tại 22 tỉnh, thành phố tham gia thí điểm. Số tiền các NHTM đã ký kết với các doanh nghiệp tham gia chương trình lên tới hơn 5.627 tỷ đồng, đến 20/12/2015 đã giải ngân 6.125,4 tỷ đồng, dư nợ đạt 1.998 tỷ đồng. Lãi suất ngắn hạn hiện áp dụng là
6,5%/năm, một số dự án có lãi suất thấp hơn ở mức 5,4-6,3%/năm.
- Cho vay xóa đói, giảm nghèo qua các năm: Ưu đãi vốn cho 25 triệu lượt hộ nghèo và đối tượng chính sách; góp phần giúp 3,6 triệu hộ vượt qua ngưỡng nghèo; tạo việc làm cho 11,8 triệu lao động từ các chương trình chính sách; hỗ trợ trên 3,3 triệu học sinh, sinh viên có hoàn cảnh khó khăn được vay vốn học tập; xây dựng gần 6,6 triệu công trình cung cấp nước sạch và vệ sinh ở nông thôn; xây dựng được 484 nghìn căn nhà cho hộ nghèo và các hộ gia đình chính sách; xây dựng 700 chòi tránh lũ; trên 102 nghìn ngôi nhà vượt lũ cho hộ gia đình vùng Đồng bằng sông Cửu Long…

Các chương trình mục tiêu trên đã được NHNN nỗ lực triển khai trong suốt giai đoạn vừa qua, mục tiêu ưu tiên xuyên suốt trong các chương trình là tập trung nguồn vốn triển khai thí điểm cho vay các mô hình liên kết chuỗi giá trị, mô hình ứng dụng công nghệ cao nhằm nâng cao hiệu quả, khả năng cạnh tranh, chất lượng sản phẩm và đáp ứng nhu cầu ngày một đa dạng của người tiêu dùng, đặc biệt đáp ứng các yêu cầu tiêu chuẩn hàng hóa xuất khẩu.

Các mô hình liên kết chuỗi giá trị, mô hình ứng dụng công nghệ cao cần có sự liên kết chặt chẽ giữa 5 nhà: nhà nước, nhà khoa học, nhà doanh nghiệp, nhà tư vấn và nhà nông. Trong đó, doanh nghiệp với vai trò trung tâm cần phát huy được sự năng động, sáng tạo. Trên thực tế, nếu chỉ tập trung gánh nặng vào vai chính sách tín dụng ngân hàng thì hiệu quả chính sách sẽ không cao.Để phát triển các mô hình này trong nông nghiệp một cách bền vững, hiệu quả hơn cần có nhiều chính sách hỗ trợ của Nhà nước như tăng đầu tư từ ngân sách Nhà nước để phát triển khoa học và công nghệ trong nông nghiệp; xây dựng sản phẩm nông nghiệp chủ lực của quốc gia, những sản phẩm có tiềm năng như: gạo, cà phê, cao su, thủy sản, thịt lợn, sữa, lâm sản… Trên cơ sở đó, xây dựng chương trình, kế hoạch đầu tư về khoa học và công nghệ trong chọn, tạo giống, tổ chức sản xuất, xuất khẩu có ý nghĩa quan trọng. Cần hình thành các khu nông nghiệp công nghệ cao hoạt động có hiệu quả tại những vùng nông nghiệp trọng điểm. Mặt khác, cần có sự hỗ trợ đồng bộ từ các chính sách khác như chính sách về bảo hiểm các sản phẩm nông nghiệp; vấn đề về quy hoạch; chính sách về đất đai, dồn điền đổi thửa… Và yếu tố quan trọng không thể thiếu là sự vào cuộc của chính quyền các cấp trong quản lý quy hoạch, quản lý thị trường sẽ tạo điều kiện thuận lợi hơn cho doanh nghiệp và các mô hình liên kết trong nông nghiệp phát triển.

Bên cạnh đó, đối với lĩnh vực này, nhu cầu vốn rất lớn nhưng hiện nay nguồn vốn kể cả ngắn hạn và dài hạn qua kênh ngân hàng chưa đủ đáp ứng.Mặc dù, NHNN đã chủ động, định hướng rõ trong chính sách tín dụng đối với các chương trình ưu tiên này, tuy nhiên, trong quá trình triển khai thực hiện tại các TCTD, còn thiếu những quy định, quy trình cụ thể đối với từng đối tượng vay vốn, từng mô hìnhvới những tiêu chuẩn, đặc điểm kỹ thuật khác nhau, từng vùng khác nhau… Đây không chỉ là vướng mắc trong cho vay các mô hình liên kết chuỗi giá trị, mô hình ứng dụng công nghệ cao mà đối với các chương trình tín dụng mục tiêu khác mà ngành ngân hàng đang triển khai cũng gặp phải như cho vay tái canh cà phê triển khai tại Agribank…

Như vậy, để có thể phát triển nền nông nghiệp bền vững trong bối cảnh Việt Nam hội nhập sâu vào nền kinh tế thế giới, trước hết cần có định hướng và chỉ đạo của Nhà nước để tạo lập một khung chính sách chung cho phát triển nông nghiệp, nông thôn trong đó có sự phối hợp đồng bộ, toàn diện giữa các Bộ, Ngành và chính quyền địa phương trong triển khai thực hiện chính sách.

Về phía NHNN, cần có đánh giá, tổng kết về các chương trình tín dụng đang triển khai thực hiện, nhận diện những khó khăn, vướng mắc để hoàn thiện chính sách. Trong đó, cần sớm có đánh giá tổng kết đầy đủ về chương trình thí điểm cho vay theo chuỗi giá trị để nhân rộng trong các ngành hàng của sản xuất nông nghiệp. NHNN cũng cần có những nghiên cứu, điều tra, khảo sát về tình hình thực tế triển khai các chính sách tín dụng, các chương trình tín dụng mục tiêu đang thực hiện tại các địa phương khác nhau để xây dựng, điều chỉnh và hoàn thiện khung chính sách tín dụng và để các TCTD có cơ sở để xây dựng các quy trình cấp tín dụng riêng, phù hợp với từng đối tượng cụ thể.
 
Tài liệu tham khảo:
ThS. Phạm Xuân Hòe, “Tín dụng ngân hàng cho nông nghiệp, nông thôn cần cách tiếp cận toàn diện và đột phá”,Hội thảo khoa học về “Đánh giá cơ chế, chính sách trong nông nghiệp nông thôn phục vụ tái cơ cấu và thu hút đầu tư”, Hà Nội, tháng 12/2015.

ThS.Nguyễn Thị Hiền
Nguồn:Tạp chí Ngân hàng số 5-2016

 
Bình luận Ý kiến của bạn sẽ được kiểm duyệt trước khi đăng. Vui lòng gõ tiếng Việt có dấu
Đóng lại ok
Bình luận của bạn chờ kiểm duyệt từ Ban biên tập
Nâng cao chất lượng tín dụng tại Ngân hàng Chính sách xã hội Chi nhánh tỉnh Sóc Trăng
Nâng cao chất lượng tín dụng tại Ngân hàng Chính sách xã hội Chi nhánh tỉnh Sóc Trăng
24/05/2022 223 lượt xem
Thực hiện mục tiêu giảm nghèo bền vững và xây dựng nông thôn mới là chủ trương lớn của Đảng và Nhà nước ta trong nhiều năm qua, cũng như những năm tiếp theo, nhằm cải thiện đời sống vật chất và tinh thần của người nghèo, góp phần thu hẹp khoảng cách, chênh lệch về mức sống giữa nông thôn và thành thị, giữa các vùng, các dân tộc và các nhóm dân cư.
Phát triển toàn diện CIC, khẳng định vai trò và vị thế trong hệ thống cơ sở hạ tầng tài chính quốc gia
Phát triển toàn diện CIC, khẳng định vai trò và vị thế trong hệ thống cơ sở hạ tầng tài chính quốc gia
18/05/2022 92 lượt xem
Trong bối cảnh tình hình kinh tế - xã hội trên thế giới và khu vực có nhiều biến động, cùng với ảnh hưởng tiêu cực của đại dịch Covid-19, phát triển bền vững trở thành xu thế bao trùm của nền kinh tế: Kinh tế số, kinh tế tuần hoàn, tăng trưởng xanh đang được nhiều các quốc gia lựa chọn.
Hoạt động nghiên cứu khoa học và công nghệ với sự phát triển của ngành Ngân hàng
Hoạt động nghiên cứu khoa học và công nghệ với sự phát triển của ngành Ngân hàng
16/05/2022 325 lượt xem
Trong sự nghiệp xây dựng và phát triển đất nước, đặc biệt từ khi tiến hành công cuộc đổi mới toàn diện, Đảng ta đã sớm có các định hướng và chỉ đạo đúng đắn về vị trí, vai trò của KH&CN đối với phát triển kinh tế - xã hội; đồng thời, luôn coi trọng và tạo điều kiện thuận lợi để KH&CN nước nhà phát triển.
Cần sớm sửa đổi Luật Bảo hiểm tiền gửi để bảo vệ tốt hơn người gửi tiền và tổ chức nhận tiền gửi
Cần sớm sửa đổi Luật Bảo hiểm tiền gửi để bảo vệ tốt hơn người gửi tiền và tổ chức nhận tiền gửi
13/05/2022 252 lượt xem
Sau 10 năm đi vào cuộc sống, trong quá trình thi hành Luật Bảo hiểm tiền gửi (BHTG), bên cạnh những mặt đạt được, vẫn còn một số vướng mắc, bất cập, cần thiết phải nghiên cứu sửa đổi, bổ sung để Luật này phát huy vai trò bảo vệ quyền lợi của người gửi tiền và góp phần duy trì sự ổn định của hệ thống các tổ chức tín dụng (TCTD).
Thị trường nông thôn - Tiềm năng phát triển thanh toán không dùng tiền mặt
Thị trường nông thôn - Tiềm năng phát triển thanh toán không dùng tiền mặt
13/05/2022 219 lượt xem
Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam (Agribank) - ngân hàng dẫn đầu về giao dịch thanh toán trên thị trường liên ngân hàng, trong đó, khách hàng trên địa bàn nông nghiệp, nông thôn là nhóm khách hàng tiềm năng để phát triển dịch vụ thanh toán không dùng tiền mặt.
Nâng cao chất lượng hoạt động của tổ tiết kiệm và vay vốn trong việc cho vay các đối tượng chính sách trên địa bàn Tiền Giang
Nâng cao chất lượng hoạt động của tổ tiết kiệm và vay vốn trong việc cho vay các đối tượng chính sách trên địa bàn Tiền Giang
13/05/2022 460 lượt xem
Tiền Giang là tỉnh thuộc Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL), đồng thời là tỉnh nằm trong Vùng kinh tế trọng điểm phía Nam. Tốc độ tăng trưởng kinh tế của tỉnh (GRDP) bình quân giai đoạn 2016 - 2020 đạt 7,3%/năm; GRDP năm 2021 so với năm 2020 tăng trưởng âm (-0,72%) do ảnh hưởng của dịch bệnh Covid-19.
Chi nhánh Ngân hàng Chính sách xã hội tỉnh An Giang nỗ lực thực hiện Nghị quyết số 11/NQ-CP
Chi nhánh Ngân hàng Chính sách xã hội tỉnh An Giang nỗ lực thực hiện Nghị quyết số 11/NQ-CP
12/05/2022 310 lượt xem
Thực hiện Nghị quyết số 11/NQ-CP ngày 30/01/2022 của Chính phủ về Chương trình phục hồi và phát triển kinh tế - xã hội và triển khai Nghị quyết số 43/2022/QH15 của Quốc hội về chính sách tài khóa, tiền tệ hỗ trợ Chương trình (Nghị quyết số 11/NQ-CP), Chi nhánh Ngân hàng Chính sách xã hội (NHCSXH) tỉnh An Giang đã phối hợp với các sở, ban, ngành liên quan để triển khai các giải pháp nhằm bảo đảm kịp thời, đưa nguồn vốn tín dụng chính sách xã hội đến đúng đối tượng, góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội địa phương.
Vấn đề bảo mật - Chìa khóa chuyển đổi số ngân hàng  thành công
Vấn đề bảo mật - Chìa khóa chuyển đổi số ngân hàng thành công
05/05/2022 358 lượt xem
Theo báo cáo của Allied Market Research, sự chuyển đổi kỹ thuật số trên toàn thế giới trong thị trường ngân hàng, dịch vụ tài chính và bảo hiểm (BFSI) được dự báo sẽ chứng kiến ​​tốc độ CAGR (tỷ lệ tăng trưởng kép hằng năm) là 15,4% từ năm 2020 - 2027, đạt 164,08 tỷ USD.
Dấu ấn tín dụng chính sách xã hội trên hành trình giảm nghèo của Kon Tum
Dấu ấn tín dụng chính sách xã hội trên hành trình giảm nghèo của Kon Tum
22/04/2022 379 lượt xem
Tín dụng chính sách xã hội tại Kon Tum đã góp phần quan trọng thực hiện mục tiêu giảm nghèo, giải quyết việc làm, bảo đảm an sinh xã hội tại địa phương. Bức tranh tín dụng chính sách xã hội trên vùng cực Bắc Tây Nguyên mang những gam màu mới; không chỉ là quy mô, chất lượng tín dụng đều tăng mà hơn thế, sự cộng hưởng sức mạnh của cả hệ thống chính trị được tăng cường và hội tụ, làm rạng sáng hơn một chính sách mang đầy tính nhân văn của Đảng.
Agribank cùng ngành Ngân hàng tích cực triển khai các sản phẩm thẻ, dịch vụ ngân hàng theo hướng số hóa
Agribank cùng ngành Ngân hàng tích cực triển khai các sản phẩm thẻ, dịch vụ ngân hàng theo hướng số hóa
22/04/2022 347 lượt xem
Việt Nam với 70% dân số trẻ, đang trong độ tuổi lao động, thu nhập ổn định, cùng với sự phát triển kinh tế, mức thu nhập bình quân ngày càng tăng, mức sống đang dần được cải thiện, trở thành thị trường tiềm năng cho mở rộng thị trường thẻ tín dụng nội địa (TDNĐ).
Agribank tiếp tục giảm lãi suất hỗ trợ khách hàng và doanh nghiệp vượt khó trong đại dịch
Agribank tiếp tục giảm lãi suất hỗ trợ khách hàng và doanh nghiệp vượt khó trong đại dịch
20/04/2022 451 lượt xem
Là ngân hàng thương mại (NHTM) được ghi nhận "mạnh tay" nhất trong việc giảm lãi suất, miễn giảm phí dịch vụ thanh toán hỗ trợ khách hàng trong năm 2021, ngay những ngày đầu quý I/2022, Agribank tiếp tục triển khai chương trình tín dụng lãi suất ưu đãi dành cho khách hàng doanh nghiệp lớn quy mô 30.000 tỷ đồng với mong muốn cùng cộng đồng doanh nghiệp sớm phục hồi và phát triển sản xuất kinh doanh.
Tín dụng chính sách xã hội mang no ấm đến với người nghèo
Tín dụng chính sách xã hội mang no ấm đến với người nghèo
13/04/2022 419 lượt xem
Thường Xuân là huyện miền núi đặc biệt khó khăn, thuộc 62 huyện nghèo của cả nước, nằm ở phía Tây của tỉnh Thanh Hóa. Dân số toàn huyện trên 90 nghìn người, với trên 21 nghìn hộ; cơ bản có 03 dân tộc Thái, Kinh, Mường sinh sống. Nền kinh tế huyện Thường Xuân chủ yếu dựa vào sản xuất nông - lâm nghiệp; kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội chưa đồng bộ, đời sống vật chất cũng như tinh thần của nhân dân còn nhiều khó khăn, nhất là vùng sâu, vùng xa, biên giới.
Agribank góp phần phát huy vai trò của phụ nữ và thúc đẩy bình đẳng giới
Agribank góp phần phát huy vai trò của phụ nữ và thúc đẩy bình đẳng giới
13/04/2022 457 lượt xem
Một trong những mục tiêu hàng đầu trong công cuộc đổi mới đất nước đó là tăng trưởng về kinh tế gắn với công bằng xã hội, thúc đẩy bình đẳng giới.
Bàn về vấn đề phân loại nợ, trích lập và sử dụng dự phòng rủi ro tín dụng của Quỹ hỗ trợ phát triển hợp tác xã
Bàn về vấn đề phân loại nợ, trích lập và sử dụng dự phòng rủi ro tín dụng của Quỹ hỗ trợ phát triển hợp tác xã
30/03/2022 659 lượt xem
Nghị định số 45/2021/NĐ-CP ngày 31/3/2021 của Chính phủ về việc thành lập, tổ chức và hoạt động của Quỹ hỗ trợ phát triển hợp tác xã (Quỹ HTX) có hiệu lực từ ngày 15/5/2021 là bước ngoặt quan trọng, giúp cho Quỹ HTX thống nhất được cơ chế hoạt động và mô hình tổ chức...
Lâm Đồng nâng cao hiệu quả vốn tín dụng chính sách xã hội
Lâm Đồng nâng cao hiệu quả vốn tín dụng chính sách xã hội
25/03/2022 771 lượt xem
Thực hiện Chỉ thị số 40-CT/TW ngày 22/11/2014 của Ban Bí thư về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với tín dụng chính sách xã hội (Chỉ thị số 40-CT/TW), những năm qua, nguồn vốn chính sách được khơi thông, trải đều khắp trên cao nguyên Lâm Đồng. Ngân hàng Chính sách xã hội (NHCSXH) chủ động huy động nguồn vốn, thực hiện phương châm “giao dịch tại nhà, giải ngân tại xã”; tăng cường biện pháp ứng phó trước những khó khăn về thiên tai, dịch bệnh, tích cực giúp người dân vay vốn thuận lợi, đẩy mạnh giảm nghèo bền vững.
Giá vàngXem chi tiết

GIÁ VÀNG - XEM THEO NGÀY

Khu vực

Mua vào

Bán ra

HÀ NỘI

Vàng SJC 1L

68.000

69.020

TP.HỒ CHÍ MINH

Vàng SJC 1L

68.000

69.000

Vàng SJC 5c

68.000

69.020

Vàng nhẫn 9999

54.150

55.150

Vàng nữ trang 9999

53.950

54.750


Ngoại tệXem chi tiết
TỶ GIÁ - XEM THEO NGÀY 
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 23.030 23.340 26.488 27.866 31.023 32.318 204.16 214.87
BIDV 23.070 23.350 26.575 27.683 31.139 32.402 203.99 213.29
VietinBank 23.040 23.340 26.607 27.727 31.399 32.409 204.47 213.47
Agribank 23.050 23.330 26.787 27.493 31.334 32.117 205.87 211.70
Eximbank 23.080 23.300 26.871 27.398 31.480 32.096 206.75 210.81
ACB 23.090 23.300 26.814 27.429 31.401 31.993 206.11 211.05
Sacombank 23.058 23.550 26.953 27.513 31.568 32.084 206.29 212.66
Techcombank 23.054 23.345 26.643 27.863 31.118 32.281 205.24 214.28
LienVietPostBank 23.100 23.345 26.875 27.928 31.504 31.988 207.19 213.97
DongA Bank 23.110 23.300 26.930 27.410 31.560 32.110 203.80 210.30
(Cập nhật trong ngày)
Lãi SuấtXem chi tiết
(Cập nhật trong ngày)
Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,20
0,20
-
3,00
3,00
3,30
4,00
4,00
5,50
5,30
BIDV
0,10
-
-
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,50
5,50
VietinBank
0,10
0,20
0,20
0,20
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
Eximbank
0,10
0,20
0,20
0,20
3,40
3,50
3,70
5,20
5,40
5,70
6,00
ACB
-
0,20
0,20
0,20
2,90
3,00
3,10
4,20
4,60
5,30
6,00
Sacombank
0,03
-
-
-
3,30
3,40
3,60
4,60
4,70
5,80
6,20
Techcombank
0,03
-
-
-
2,55
2,55
2,85
4,00
3,90
4,70
4,60
LienVietPostBank
0,10
0,10
0,10
0,10
3,10
3,10
3,40
4,20
4,40
5,50
5,50
DongA Bank
0,20
0,20
0,20
0,20
3,50
3,50
3,50
5,40
5,50
6,00
6,30
Agribank
0,10
-
-
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,50
5,50

Liên kết website
Bình chọn trực tuyến
Nội dung website có hữu ích với bạn không?