Thứ Năm, ngày 26 tháng 11 năm 2020

Kết quả đạt được trong công tác xử lý nợ xấu của ngành Ngân hàng và một số đề xuất trong giai đoạn 2021-2025

Ngày đăng:10:20 21/10/2020
Lượt xem: 596
Cỡ chữ
Với chủ trương tạo bước chuyển biến mạnh mẽ, giúp xử lý nhanh và dứt điểm nợ xấu của các TCTD trong giai đoạn 2016 - 2020, trên cơ sở tinh thần chỉ đạo tại các Nghị quyết của......

1. Các biện pháp triển khai tích cực trong công tác xử lý nợ xấu giai đoạn 2016-2020
 
Với chủ trương tạo bước chuyển biến mạnh mẽ, giúp xử lý nhanh và dứt điểm nợ xấu của các TCTD trong giai đoạn 2016 - 2020, trên cơ sở tinh thần chỉ đạo tại các Nghị quyết của Quốc hội và Chính phủ1, NHNN đã xác định việc hoàn thiện khung khổ pháp lý về cơ cấu lại các TCTD yếu kém là nhiệm vụ trọng tâm của giai đoạn 2016-2020. Trên cơ sở đó, NHNN đã xây dựng và trình Quốc hội thông qua Nghị quyết số 42/2017/QH14 ngày 21/6/2017 về thí điểm xử lý nợ xấu của các TCTD (NQ 42) nhằm xử lý nhanh, dứt điểm nợ xấu của các TCTD và Quyết định số 1058/QĐ-TTg phê duyệt Đề án cơ cấu lại các TCTD gắn với xử lý nợ xấu giai đoạn 2016 - 2020 ngày19/07/2017, theo đó toàn ngành Ngân hàng đã chủ động, tích cực triển khai các biện pháp sau:
 
1.1. Đối với NHNN
 
- Ban hành các văn bản pháp lý triển khai thực hiện NQ42: (i) Chỉ thị số 06/CT-NHNN về việc thực hiện NQ 42 thí điểm xử lý nợ xấu của các TCTD và trình Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Đề án “Cơ cấu lại hệ thống các TCTD gắn liền với xử lý nợ xấu giai đoạn 2016 - 2020” ban hành kèm theo Quyết định 1058/QĐ-TTg ngày 19/7/2017, trong đó yêu cầu các đơn vị thuộc NHNN và các TCTD, chi nhánh NHNNg quán triệt và triển khai các nhiệm vụ, giải pháp cụ thể liên quan tới việc thực hiện NQ 42; ban hành Thông tư số 09/2017/TT-NHNN ngày 14/8/2017 về mua, bán và xử lý nợ xấu của VAMC để hướng dẫn Điều 6 NQ 42.
 
- Yêu cầu các TCTD rà soát, đánh giá toàn bộ danh mục tín dụng, thực trạng nợ xấu sửa đổi các quy định nội bộ liên quan quy trình; tiếp tục thực hiện phân loại nợ, trích lập dự phòng rủi ro theo quy định; tăng cường công tác quản lý rủi ro và thực hiện các giải pháp kiểm soát nợ xấu mới phát sinh; định kỳ hàng tháng, quý hoặc theo yêu cầu đột xuất gửi báo cáo NHNN tình hình xử lý nợ xấu theo NQ 42 để theo dõi, giám sát.
 
- Chỉ đạo NHNN chi nhánh tỉnh, thành phố trong việc: (i) Yêu cầu các chi nhánh TCTD và QTDND trên địa bàn chấp hành nghiêm túc quy định của pháp luật về cấp tín dụng, bảo đảm tiền vay, các quy định an toàn trong hoạt động; (ii) có văn bản về việc cảnh báo nợ xấu đối với các QTDND có nợ xấu vượt mức cho phép; (iii) Tập trung thanh tra, giám sát công tác tín dụng, phân loại nợ, trích lập dự phòng rủi ro, xử lý thu hồi nợ, phát hiện và xử lý kịp thời các TCTD và cá nhân có hành vi vi phạm nhằm nâng cao chất lượng tín dụng.
 
1.2. Đối với VAMC
 
- Hoàn thiện việc sửa đổi và ban hành các văn bản hướng dẫn nghiệp vụ phù hợp với Luật đấu giá tài sản, NQ 42, Thông tư 09 (Quy chế mua, bán và xử lý nợ xấu của VAMC thay thế quy chế thực hiện từ năm 2013; Quy định phân cấp, phân quyền về mua, bán và xử lý nợ xấu và hoạt động tài chính của VAMC; Quy chế hoạt động của Hội đồng đấu giá tài sản của VAMC…) và tiếp tục nghiên cứu điều chỉnh, hoàn thiện Phương án mua nợ xấu theo giá thị trường, các quy trình nội bộ về mua bán nợ xấu, bán tài sản đảm bảo của VAMC và bán khoản nợ mua bằng trái phiếu đặc biệt của VAMC.
 
- Phối hợp chặt chẽ với các cơ quan có thẩm quyền và khách hàng vay để hoàn thiện thủ tục, hồ sơ pháp lý và đề nghị được áp dụng thủ tục rút gọn trong giải quyết tranh chấp về nghĩa vụ giao và xử lý TSBĐ; phối hợp với Tổng cục Thi hành án dân sự đẩy nhanh tiến độ thi hành án đối với các bản án đã có hiệu lực pháp luật.
 
- Ký thỏa thuận hợp tác, phối hợp với một số TCTD thí điểm triển khai đẩy mạnh xử lý nợ xấu theo NQ 42; rà soát danh sách, đánh giá thực trạng các khoản nợ, tài sản đảm bảo cho các khoản nợ xấu đã mua để xác định khả năng thu hồi nợ để có biện pháp xử lý phù hợp; thuê tổ chức định giá độc lập để xác định giá mua thị trường đối với một số khoản nợ; xây dựng danh mục các tài sản bảo đảm là dự án bất động sản đáp ứng các điều kiện để chào bán tới các nhà đầu tư; tích cực tìm kiếm các đối tác mua nợ đối với các khoản nợ đã bán cho VAMC và được VAMC ủy quyền bán nợ.
 
1.3. Đối với các TCTD
 
- Thành lập Ban chỉ đạo, các tổ công tác xử lý nợ xấu và ban hành văn bản chỉ đạo, phổ biến, hướng dẫn, tập huấn nội dung Nghị quyết cho các cán bộ từ Hội sở đến các chi nhánh trong toàn hệ thống; truyền thông đến khách hàng đang có nợ xấu theo NQ 42 để khách hàng hiểu rõ quyền lợi hợp pháp của TCTD cũng như trách nhiệm trả nợ của khách hàng.
 
- Thực hiện rà soát, đánh giá toàn bộ danh mục tín dụng trong toàn hệ thống, đánh giá thực trạng nợ, nợ xấu được xác định theo các quy định tại NQ 42; rà soát tài sản đảm bảo và thủ tục pháp lý của các khoản nợ xấu, xây dựng danh mục các tài sản đảm bảo đáp ứng đủ các điều kiện thu giữ theo NQ 42; rà soát, sửa đổi các quy định nội bộ liên quan, trong đó bao gồm việc xây dựng các quy trình, hướng dẫn và biểu mẫu, công văn phục vụ công tác thu giữ tài sản.
 
- Phối hợp với VAMC, các đơn vị có liên quan, chính quyền địa phương các cấp để tranh thủ sự chỉ đạo, hỗ trợ trong quá trình xử lý nợ xấu; làm việc với các cơ quan tố tụng để đề nghị nhận lại tài sản bảo đảm là vật chứng của các khoản nợ có liên quan đến các vụ án hình sự sau khi cơ quan tố tụng hoàn tất các thủ tục xác định chứng cứ xét thấy không ảnh hưởng đến việc xử lý vụ án và thi hành án.
 
- Tích cực đôn đốc, yêu cầu khách hàng trả nợ; đối với khách hàng không hợp tác, chây ỳ trong việc trả nợ và xử lý tài sản đảm bảo xem xét áp dụng các biện pháp quyết liệt để xử lý nợ; tiến hành thủ tục khởi kiện khách hàng vay, làm việc với cơ quan Tòa án, Thi hành án, các cơ quan chức năng để đôn đốc đẩy nhanh tiến độ xử lý nợ xấu; vận dụng linh hoạt các giải pháp hỗ trợ để xử lý tài sản đảm bảo có hiệu quả.
 
- Căn cứ thực trạng nợ xấu, khả năng thu hồi nợ theo NQ 42, các TCTD xây dựng kế hoạch xử lý nợ xấu, kế hoạch phân bổ đối với lãi dự thu đã ghi nhận của khoản nợ xấu, nghiên cứu thực hiện hoạt động mua bán nợ xấu theo cơ chế thị trường; thực hiện các biện pháp nâng cao năng lực quản trị điều hành, kiểm soát nội bộ, quản trị rủi ro tín dụng để phòng ngừa, kiểm soát nhằm hạn chế tối đa nợ xấu phát sinh, nâng cao chất lượng tín dụng.
 
2. Kết quả công tác xử lý nợ xấu của ngành Ngân hàng giai đoạn 2016 - 2020
 
Thời gian qua, các TCTD và VAMC đã tích cực rà soát, đánh giá toàn bộ danh mục tài sản trong toàn hệ thống TCTD và nợ đã mua bằng trái phiếu đặc biệt nhằm đánh giá nhận diện thực trạng nợ, nợ xấu, tài sản đảm bảo cho các khoản nợ xấu được xác định theo NQ 42, những khó khăn, vướng mắc trong quá trình xử lý để xây dựng các giải pháp xử lý phù hợp và triển khai, áp dụng các biện pháp nhằm xử lý nợ xấu. Theo đó, việc xử lý nợ xấu theo NQ 42 về cơ bản đã có kết quả và những thành công đáng kể, nhưng vẫn còn tồn tại một số khó khăn. Cụ thể như sau:
 
2.1. Kết quả xử lý nợ xấu (thí điểm tại 06 TCTD, không bao gồm hệ thống QTDND)
 
Tổng nợ và nợ xấu xác định theo NQ 42 đã được các TCTD tính toán đầy đủ theo hướng dẫn; tỷ lệ nợ xấu toàn hệ thống các TCTD được xác định theo NQ 42 cao, chủ yếu tập trung tại các TCTD trong nước, nhưng đã giảm xuống đáng kể trong thời gian qua.
 
Nhờ các biện pháp tích cực, đẩy mạnh xử lý nợ xấu và xử lý tài sản đảm bảo trong thời gian qua, năng lực tài chính của các TCTD được củng cố, vốn điều lệ tăng nhanh dần qua các năm. Theo số liệu báo cáo thống kê của NHNN, tính đến cuối tháng 11/2019, tổng tài sản có của toàn hệ thống TCTD đạt gần 12.073 nghìn tỷ đồng, trong đó vốn điều lệ của toàn hệ thống ước đạt 608,6 nghìn tỷ đồng, tăng 5,6% so với cuối năm 2018. Vốn chủ sở hữu của toàn hệ thống ước đạt 913,27 nghìn tỷ đồng, tăng 13,29% so với cuối năm 2018. Tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu (CAR) ở mức 12,21% và tỷ lệ vốn ngắn hạn cho vay trung dài hạn đạt  mức 27,15%. Chất lượng tín dụng được cải thiện: Các giải pháp xử lý nợ xấu được triển khai đồng bộ cùng với các biện pháp kiểm soát, phòng ngừa nợ xấu mới phát sinh đã góp phần quan trọng nâng cao chất lượng tín dụng và giảm tỷ lệ nợ xấu của hệ thống các TCTD. Bên cạnh đó, NQ 42 bước đầu đã tạo điều kiện quan trọng góp phần xử lý nợ xấu tại các TCTD2, đến cuối tháng 12/2019 tỷ lệ nợ xấu so với tổng nợ là 1,89% (hoàn thành mục tiêu 2%), giảm đáng kể so với 2,46% tại thời điểm 31/12/2016.
 
Tính lũy kế từ 15/8/2017 đến cuối tháng 12/2019, cả hệ thống TCTD đã xử lý được 305,7 nghìn tỷ đồng nợ xấu xác định theo NQ42, trung bình từ 15/08/2017 đến 12/2019, mỗi tháng toàn hệ thống xử lý được khoảng 10,5 nghìn tỷ đồng/tháng, cao hơn mức 4,7 nghìn tỷ đồng so với kết quả xử lý nợ xấu trung bình từ 2012 - 2017 trước khi NQ 42 có hiệu lực. Kết quả xử lý nợ xấu xác định theo NQ 42 cho thấy ý thức trả nợ của khách hàng đã được cải thiện một bước quan trọng. Đây là dấu hiệu tích cực cho thấy NQ 42 đã và đang phát huy hiệu quả, góp phần tháo gỡ các khó khăn, vướng mắc và đẩy mạnh công tác xử lý nợ xấu của hệ thống các TCTD.
 
2.2. Những kết quả và hạn chế 
 
a) Thành công
 
Thứ nhất, TCTD, chi nhánh NH nước ngoài, tổ chức mua bán, xử lý nợ xấu được bán nợ xấu, tài sản bảo đảm của khoản nợ theo giá trị thị trường, kể cả việc bán nợ xấu với giá trị thấp hơn giá trị sổ sách của khoản nợ, quy định này là phù hợp với thực tế biến động của thị trường, giúp TCTD chủ động hơn trong việc đàm phán thỏa thuận về giá bán nợ xấu, tài sản bảo đảm theo cơ chế thị trường.
 
Thứ hai, quy định tại NQ42 cho phép VAMC được mua các khoản nợ xấu đã sử dụng DPRR đang hạch toán ngoại bảng của TCTD, không có phân biệt nợ xấu “đang hạch toán nội bảng hay ngoại bảng trên bảng cân đối kế toán” của TCTD. Từ khi thành lập 2017 đến cuối tháng 12/20193, VAMC đã thu hồi nợ được 90.556 tỷ đồng, bằng 60% tổng giá trị thu hồi nợ lũy kế từ 2013 đến nay, trong tổng số 40 TCTD bán nợ cho VAMC đã có 12 TCTD thực hiện quyết toán nợ cho VAMC. 
 
Thứ ba, kết quả xử lý nợ xác định theo NQ 42 theo hình thức khách hàng trả nợ có xu hướng tăng, phần nào phản ánh hiệu quả kinh tế, ý thức trả nợ của khách hàng đã cải thiện khi TCTD, tổ chức mua bán, xử lý nợ xấu có quyền thu giữ tài sản bảo đảm theo NQ 424
 
Thứ tư, đối tượng được mua nợ xấu đã được mở rộng nhằm thúc đẩy sự phát triển thị trường mua bán nợ, không chỉ giới hạn ở DATC, AMC của các TCTD mà còn bao gồm các pháp nhân không có đăng ký kinh doanh về ngành nghề mua bán nợ; đồng thời, bên mua các khoản nợ có nguồn gốc từ hoạt động cấp tín dụng của TCTD được nhận thế chấp bằng quyền sử dụng đất, tài sản gắn liền với đất là tài sản bảo đảm của khoản nợ đã mua. 
 
Thứ năm, TCTD được chuyển nhượng các tài sản bảo đảm là dự án bất động sản khi đáp ứng các điều kiện chuyển nhượng dự án bất động sản phù hợp với đặc thù xử lý tài sản bảo đảm trong lĩnh vực tín dụng, ngân hàng, tạo điều kiện cho các TCTD, tổ chức mua bán, xử lý nợ xấu có cơ sở pháp lý xử lý được tài sản bảo đảm là các dự án bất động sản qua đó góp phần tăng cường hiệu quả của công tác xử lý nợ xấu vì đây chủ yếu là các khoản nợ xấu có số dư lớn. 
 
Thứ sáu, các tài sản bảo đảm của người phải thi hành án đang bảo đảm cho nghĩa vụ trả nợ tại TCTD, tổ chức mua bán, xử lý nợ xấu được bảo đảm không bị kê biên để thực hiện nghĩa vụ khác theo quy định pháp luật về thi hành án dân sự trừ trường hợp có sự đồng ý bằng văn bản của TCTD, tổ chức mua bán, xử lý nợ xấu nhằm đảm bảo quyền chủ nợ hợp pháp của TCTD khi là bên nhận bảo đảm trong trường hợp bên có tài sản bảo đảm bị kê biên tài sản để thi hành án. Đồng thời, TCTD được bán nợ có tài sản bảo đảm đang bị kê biên cho tổ chức mua bán và xử lý nợ xấu và được hoàn trả tài sản bảo đảm là vật chứng, giúp đảm bảo quyền xử lý tài sản bảo đảm hợp pháp của TCTD, tổ chức mua bán, xử lý nợ xấu và đảm bảo góp phần tăng cường tiến độ, hiệu quả xử lý nợ của hệ thống TCTD. 
 
Thứ bảy, TCTD có thể đề nghị áp dụng thủ tục rút gọn trong giải quyết tranh chấp về nghĩa vụ giao tài sản bảo đảm và quyền xử lý tài sản bảo đảm; đồng thời, TCTD, tổ chức mua bán, xử lý nợ xấu, nhà đầu tư khi thi hành án được áp dụng một số ưu đãi như miễn phí thi hành án dân sự khi thu hồi nợ....
 
Thứ tám, số tiền thu được từ xử lý tài sản bảo đảm được ưu tiên thanh toán cho nghĩa vụ nợ được bảo đảm cho TCTD, tổ chức mua bán, xử lý nợ xấu nhằm tạo điều kiện để TCTD, tổ chức mua bán, xử lý nợ xấu có thể thu hồi được khoản nợ xấu từ xử lý tài sản bảo đảm, đặc biệt trong trường hợp số tiền bán tài sản bảo đảm không đủ thu hồi nợ cho TCTD, tổ chức mua bán, xử lý nợ xấu nhưng vẫn phải nộp thuế. Đồng thời, TCTD, tổ chức mua bán nợ, xử lý nợ xấu được phân bổ dần số lãi dự thu và chênh lệch giữa giá trị khoản nợ và giá bán khoản nợ nhằm giảm tác động đột ngột đến tình hình tài chính của TCTD, hỗ trợ TCTD, tổ chức mua bán, xử lý nợ xấu có thêm nguồn lực tài chính để hoạt động kinh doanh hiệu quả.
 
b) Hạn chế và nguyên nhân
 
Bên cạnh một số kết quả bước đầu trong thời gian qua, thực tế triển khai cho thấy, công tác cơ cấu lại hệ thống các TCTD gắn với xử lý nợ xấu vẫn còn gặp một số khó khăn, thách 
thức như: 
 
- Tình hình kinh tế vĩ mô còn nhiều biến động do:
 
+ Thị trường tài chính, tiền tệ quốc tế diễn biến phức tạp do ảnh hưởng của cuộc chiến thương mại Mỹ - Trung và các vấn đề khác, qua đó tiềm ẩn nhiều rủi ro, tác động xấu đến nền kinh tế - tài chính trong nước; Tình hình dịch bệnh Covid đang diễn biến phức tạp và khó lường trên phạm vi toàn cầu nên đã ảnh hưởng đáng kể đến hoạt động sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp, ngân hàng nói riêng và nền kinh tế trong nước nói chung, tiềm ẩn nguy cơ nợ xấu tăng.
 
+ Khả năng chống đỡ của nền kinh tế trước các cú sốc trong và ngoài nước còn chưa thực sự bền vững do độ mở nền kinh tế Việt Nam và chịu sự phụ thuộc vào một số thị trường chính, trong khi khối doanh nghiệp FDI đóng góp đáng kể khoảng gần 70% tổng kim ngạch (2019), tỷ lệ nợ công /GDP mặc dù đã giảm nhưng vẫn trên 50% GDP, hiện ở mức khoảng 56%.
 
- Hoạt động của các TCTD vẫn còn một số hạn chế do:
 
+ Một số tập đoàn, tổng công ty nhà nước hiện đang gặp khó khăn về tài chính, sự thành công của quá trình cơ cấu lại hệ thống các TCTD, kể cả các TCTD phi ngân hàng phụ thuộc rất lớn vào sự phục hồi hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp; nội dung phương án cơ cấu lại các Tập đoàn/Tổng công ty nhà nước, do đó cần có sự hỗ trợ, chỉ đạo về định hướng cơ cấu lại từ các Bộ, ngành chủ quản.
 
+ Trong bối cảnh NSNN còn hạn chế, quan điểm nhất quán của Chính phủ là không sử dụng tiền của NSNN để cơ cấu lại TCTD và xử lý nợ xấu, trong khi đó khả năng huy động các nguồn lực xã hội cho tái cơ cấu, xử lý nợ xấu của các TCTD còn hạn chế. Mặt khác, tổng số vốn cần bổ sung cho các NHTM Nhà nước đáp ứng theo yêu cầu tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu theo chuẩn quốc tế Basel II là khá lớn. Trong khi đó, việc tăng vốn cho các NHTM Nhà nước còn tồn tại vướng mắc liên quan đến khuôn khổ pháp lý5.
 
+ Các TCTD vẫn đang gặp khó khăn do khách hàng không hợp tác trong việc bàn giao tài sản; các cơ quan chức năng (UBND, cơ quan công an,…) chưa phối hợp, tham gia hỗ trợ một cách tích cực để giải quyết khó khăn cho TCTD; khó khăn về mặt truyền thông trong quá trình thu giữ tài sản theo tinh thần NQ42.
 
+ Năng lực quản trị rủi ro, trình độ quản trị điều hành của các TCTD mặc dù đã được cải thiện nhưng vẫn còn có những hạn chế so với các tiêu chuẩn quy định tại Basel II; hơn nữa, mặc dù cơ cấu tài sản, thu nhập của các TCTD thời gian qua đã có những cải thiện tích cực theo hướng gia tăng tỷ trọng nắm giữ các tài sản tài chính (trái phiếu Chính phủ, tín phiếu NHNN…) làm dự trữ đệm, tỷ trọng thu nhập từ hoạt động cung ứng dịch vụ gia tăng nhưng nguồn thu từ hoạt động tín dụng vẫn chiếm tỷ trọng lớn trong tổng thu nhập (khoảng 70 - 80%), tiềm ẩn rủi ro đối với hoạt động kinh doanh của TCTD.
 
+ Hiện Việt Nam chưa hình thành được thị trường mua bán nợ thực sự chuyên nghiệp khiến việc mua bán, xử lý nợ xấu còn chưa được thông suốt, nhanh chóng và sôi động, thị trường chưa có các giao dịch với giá trị lớn.
 
+ Việc phối hợp với các cơ quan thi hành pháp luật như Tòa án để xử lý tài sản thường kéo dài, đặc biệt công tác thu giữ tài sản đảm bảo còn khó khăn… Do đó, các TCTD khó dự báo được kế hoạch, tiến độ xử lý các khoản nợ xấu. 
 
+ Một số địa phương chưa triển khai tốt công tác tuyên truyền các chỉ đạo của Chính phủ, triển khai thực tế NQ42 để tạo sự đồng thuận sâu rộng trong xã hội, tạo điều kiện thuận lợi cho các TCTD để xử lý nợ xấu có hiệu quả
 
3. Một số đề xuất nhằm đẩy nhanh công tác xử lý nợ xấu giai đoạn 2021 - 2025 
 
a) Đối với NHNN 
 
- Tăng cường thanh tra, giám sát chặt chẽ việc chấp hành quy định về an toàn hoạt động và phân loại nợ, trích lập dự phòng rủi ro, hoạt động cấp tín dụng, chất lượng tín dụng, nợ xấu để phát hiện, ngăn chặn và xử lý kịp thời rủi ro gây tổn thất, mất an toàn và vi phạm pháp luật trong hoạt động cấp tín dụng của TCTD; kiểm soát tốc độ và chất lượng tăng trưởng tín dụng hợp lý; phát hiện và xử lý kịp thời xu hướng đầu tư, cấp tín dụng vào các lĩnh vực, ngành nghề, đối tượng tiềm ẩn nhiều rủi ro; 
 
- Tăng cường công tác thanh tra, giám sát TCTD, VAMC trong việc chấp hành các quy định của pháp luật về mua, bán nợ; Ban hành và triển khai các nguyên tắc, chuẩn mực an toàn hoạt động tín dụng phù hợp với thông lệ, chuẩn mực quốc tế và điều kiện thực tiễn của Việt Nam. 
 
- Tiếp tục hoàn thiện, nâng cao hiệu quả hệ thống giám sát, đánh giá chất lượng tín dụng của NHNN đối với các TCTD. Phát triển hệ thống thông tin tín dụng quốc gia và cơ sở dữ liệu về doanh nghiệp, ngành, lĩnh vực kinh tế để hỗ trợ cho quá trình giám sát và cảnh báo rủi ro tín dụng, nợ xấu phát sinh.
 
- Sửa đổi, bổ sung các quy định, chính sách về hoạt động tín dụng theo hướng (i) đảm bảo phải có sự tham gia vốn hợp lý của chủ đầu tư trong các dự án đầu tư; (ii) nâng cao nguyên tắc, kỷ luật thị trường trong hoạt động tín dụng; (iii) công khai, minh bạch, tăng cường sự giám sát của thị trường, nhà đầu tư và người gửi tiền đối với hoạt động tín dụng; (iv) hạn chế, kiểm soát chặt chẽ việc cấp tín dụng đối với cổ đông lớn và người có liên quan; (v) phòng ngừa tiêu cực, tham nhũng trong hoạt động tín dụng; (vi) tăng cường trách nhiệm của hội đồng quản trị, hội đồng thành viên, ban kiểm soát và ban điều hành đối với hoạt động tín dụng.
 
- Điều hành linh hoạt, chặt chẽ, thận trọng chính sách tiền tệ và lượng tiền cung ứng phù hợp với mục tiêu kiềm chế lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô, duy trì mặt bằng lãi suất hợp lý, ổn định tỷ giá để hỗ trợ cho hoạt động sản xuất kinh doanh, hạn chế rủi ro trong hoạt động ngân hàng và bảo đảm an toàn thanh khoản của hệ thống ngân hàng.  
 
- Tiếp tục triển khai tái cơ cấu, kiên quyết xử lý dứt điểm và loại bỏ những TCTD yếu kém, tiềm ẩn rủi ro gây mất an toàn hệ thống; Đề xuất định hướng, giải pháp cơ cấu lại gắn với xử lý nợ xấu các tổ chức tín dụng giai đoạn 2021 - 2025.
 
- Chủ trì, phối hợp với các cơ quan, tổ chức có liên quan tiếp tục nghiên cứu, hoàn thiện các quy định về tổ chức, hoạt động và tài chính của VAMC; nghiên cứu, bổ sung vào văn bản Luật quy định những vấn đề đặc thù về tổ chức, hoạt động, tài chính và thẩm quyền của VAMC.
 
b) Đối với các TCTD 
 
- Nghiêm chỉnh chấp hành quy định của pháp luật về cấp tín dụng, bảo đảm tiền vay, các quy định an toàn, thận trọng trong hoạt động tín dụng; thực hiện phân loại nợ, trích lập và sử dụng dự phòng rủi ro đầy đủ theo quy định của pháp luật, bao gồm cả việc trích lập dự phòng rủi ro trái phiếu đặc biệt.
 
- Thường xuyên rà soát, sửa đổi và hoàn thiện các quy định, chính sách quy trình, thủ tục quản lý, kiểm soát, giám sát cấp tín dụng theo hướng chặt chẽ, phòng ngừa, ngăn chặn rủi ro và vi phạm pháp luật trong hoạt động tín dụng; nâng cao năng lực quản trị, điều hành, hệ thống kiểm soát, kiểm toán nội bộ đối với hoạt động tín dụng; 
 
- Phát triển hệ thống quản trị rủi ro phù hợp với thông lệ, chuẩn mực quốc tế; triển khai đồng bộ các giải pháp phòng ngừa, phát hiện sớm và xử lý các hành vi vi phạm, tiêu cực, tham nhũng trong hoạt động cấp tín dụng; Quản lý có hiệu quả đội ngũ cán bộ ngân hàng, đặc biệt là nâng cao năng lực đánh giá, thẩm định tín dụng và đạo đức nghề nghiệp của cán bộ ngân hàng.
 
- Bảo đảm tăng trưởng tín dụng an toàn, hiệu quả và phù hợp với quy mô, cơ cấu nguồn vốn. Rà soát, điều chỉnh chiến lược, định hướng kinh doanh theo hướng an toàn, hiệu quả; kiểm soát chặt chẽ cấp tín dụng vào các lĩnh vực tiềm ẩn rủi ro cao và đầu tư dài hạn vào lĩnh vực phát triển cơ sở hạ tầng kinh tế - xã hội.
 
- Tăng cường tính minh bạch, công khai trong hoạt động của TCTD, đặc biệt là hoạt động tín dụng; xử lý triệt để tình trạng sở hữu chéo, vi phạm giới hạn về sở hữu vốn; ngăn chặn, xử lý vấn đề lợi ích nhóm, cổ đông/nhóm cổ đông lớn chi phối trong các TCTD. 
 
- Tích cực, chủ động triển khai đồng bộ, quyết liệt các giải pháp xử lý nợ xấu như đôn đốc thu hồi nợ, bán, xử lý nợ, tài sản bảo đảm, khởi kiện khách hàng vay, sử dụng dự phòng để xử lý rủi ro, có biện pháp hỗ trợ phù hợp cho khách hàng khắc phục khó khăn và phát triển sản xuất kinh doanh; Tiếp tục hỗ trợ vốn, miễn, giảm lãi suất, cơ cấu lại nợ theo đúng quy định của pháp luật; đồng thời cải cách mạnh mẽ thủ tục cấp tín dụng theo hướng thuận tiện cho khách hàng tiếp cận vốn, dịch vụ ngân hàng.
 
- Thực hiện nhóm nhiệm vụ nâng cao năng lực tài chính và chất lượng tín dụng nêu tại Kế hoạch hành động của ngành Ngân hàng triển khai Đề án Cơ cấu lại hệ thống các TCTD gắn với xử lý nợ xấu: Xây dựng và cải thiện chất lượng nguồn vốn tự có để bảo đảm mức vốn điều lệ không thấp hơn mức vốn pháp định theo quy định của pháp luật và đáp ứng đầy đủ tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu theo quy định của pháp luật và chuẩn mực vốn Basel II; Xây dựng và triển khai lộ trình tăng vốn tự có của TCTD. 
 
- Nâng cao năng lực đánh giá, thẩm định tín dụng và hiệu quả quản trị rủi ro tín dụng; nhất là năng lực về phân tích dự án, đề xuất vay theo dòng tiền; Thực hiện quản lý rủi ro tín dụng theo quy trình cho vay theo 3 khâu: đề xuất tín dụng, thẩm định và giải ngân; đổi mới hệ thống xếp hạng tín dụng nội bộ (doanh nghiệp và cá nhân).
 
c) Đối với hoạt động của VAMC
 
- Cần xem xét bổ sung nguồn lực tài chính cho VAMC để khả năng xử lý các khoản nợ xấu, cụ thể như có thể tăng vốn điều lệ của VAMC theo lộ trình để bổ sung nguồn vốn mua nợ xấu theo giá trị thị trường, bổ sung cơ sở vật chất, nguồn nhân lực và nâng cao năng lực tài chính, uy tín thị trường nhằm triển khai việc mua bán nợ xấu theo giá trị thị trường có hiệu quả theo lộ trình được phê duyệt tại Quyết định 1058. 
 
- Tiếp tục nghiên cứu mở rộng phạm vi đối tượng mua nợ và các khoản đầu tư của VAMC để VAMC từng bước trở thành trung tâm tái tài trợ các khoản nợ, khoản đầu tư của TCTD, doanh nghiệp, hỗ trợ cho việc cơ cấu lại nợ. 
 
- Cần có văn bản quy định rõ các trường hợp, điều kiện nào thì VAMC sẽ đứng danh nghĩa trực tiếp thu giữ TSBĐ hay ủy quyền cho TCTD thu giữ TSBĐ, sự phối hợp giữa VAMC và TCTD.
 
d) Các đề xuất khác
 
- Sớm hình thành thị trường mua bán nợ trong tương lai tại Việt Nam, theo đó trước mắt có thể hình thành thị trường mua bán các khoản nợ xấu thông qua thiết lập Sàn Giao dịch nợ xấu6; Thống nhất khuôn khổ pháp lý chung cho thị trường mua bán nợ nhằm khuyến khích các chủ thể tham gia thị trường, đơn giản hóa thủ tục pháp lý nhằm thúc đẩy nhanh quá trình giao dịch mua bán nợ. 
 
- Chính phủ cần cân nhắc xem xét cho phép khu vực có vốn nước ngoài được tham gia mua bán nợ (hiện nay theo quy định Nghị định 69/2016 và quy chế hoạt động VAMC chưa cho phép) bởi hiện nay, một số khoản nợ xấu của VAMC và các ngân hàng mặc dù có đủ điều kiện để bán đấu giá nhưng do doanh nghiệp trong nước không đủ tiềm lực tài chính để mua, đồng thời không được sử dụng vốn từ NSNN để tài trợ, do đó đã làm chậm quá trình xử lý nợ xấu.
 
- Tiếp tục ban hành các văn bản hướng dẫn nhằm tháo gỡ các khó khăn trong quá trình triển khai NQ42, điển hình như: (i) Bộ Tài chính cần ban hành văn bản hướng dẫn Tổng cục Thuế và các chi cục thuế liên quan đến nghĩa vụ tài chính khi xử lý nợ xấu; (ii) Bộ Tài nguyên & Môi trường hướng dẫn các thủ tục nhận thế chấp, đăng ký thế chấp quyền sử dụng đất, tài sản gắn liền với đất, tài sản gắn liền với đất hình thành trong tương lai; (iii) Hướng dẫn chuyển nhượng, sang tên tài sản đảm bảo của các khoản nợ xấu (như quyền sử dụng đất trong thực hiện dự án đầu tư xây dựng kinh doanh nhà ở…).
 
- Xây dựng hệ thống kết nối dữ liệu thông tin tài sản, đồng thời tăng cường hiệu quả công tác thanh kiểm tra, lấy trọng tâm và đề cao vai trò xử lý nợ xấu của TCTD, có cơ chế cảnh báo sớm, công tác thanh tra, giám sát cần tập trung vào các vấn đề rủi ro cao để đảm bảo không phát sinh thêm nợ xấu mới, phấn đấu đưa tỷ lệ nợ xấu nội bảng về dưới 2%.
 
 
1 Nghị quyết số 23/2016/QH14 ngày 07/11/2016, Nghị quyết số 24/2016/QH14 ngày 08/11/2016 của Quốc hội và Nghị quyết 01/NQ-CP ngày 01/01/2017 của Chính phủ.
 
2 Số liệu CQTTGSNH -NHNN công bố tại cuộc Họp báo triển khai nhiệm vụ ngành Ngân hàng 2020
 
3 Số liệu tại Hội nghị triển khai nhiệm vụ của VAMC năm 2020
 
4 Số nợ xấu xử lý theo NQ 42 do khách hàng trả nợ trung bình 7 tháng thí điểm NQ42 là 6,6 nghìn tỷ đồng/tháng, cao hơn 4,5 nghìn tỷ đồng so với kết quả xử lý nợ xấu dưới hình thức khách hàng trả nợ từ 2012 - 2017 trước khi NQ 42 có hiệu lực (khoảng 2,1 nghìn tỷ đồng/tháng)
 
Theo quy định của Luật Ngân sách nhà nước, Luật Quản lý, sử dụng vốn nhà nước đầu tư vào sản xuất, kinh doanh tại doanh nghiệp, Nghị định số 91/2015/NĐ-CP không cho phép các NHTM Nhà nước giữ lại lợi nhuận, sau khi trích lập các quỹ phải trả/phải nộp cho Nhà nước; đồng thời tại Nghị quyết số 25/2016/QH14 ngày 09/11/2016 của Quốc hội về Kế hoạch tài chính 5 năm quốc gia giai đoạn 2016 - 2020 cũng quy định rõ việc tăng vốn điều lệ cho các NHTM Nhà nước không sử dụng NSNN.
 
6 Mặc dù Việt Nam đã có quy định về điều kiện kinh doanh dịch vụ mua bán nợ theo Nghị định 69/2016/NĐ-CP, tuy nhiên các đối tượng được áp dụng chỉ bao gồm doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ mua bán nợ và tổ chức, cá nhân có nhu cầu kinh doanh dịch vụ mua bán nợ, trong khi đó các khoản nợ xấu của hệ thống ngân hàng hiện chiếm tỷ trọng lớn trong nền kinh tế lại áp dụng quy định Luật TCTD và các quy định khác có liên quan, hay các hoạt động mua bán trái phiếu của tổ chức, cá nhân thực hiện theo quy định của Luật Chứng khoán…
 
Tài liệu tham khảo:
 
1. International Monetary Fund, 2016, “Asean-5 cluster report - evolution of monetary policy framework”, IMF Country Report No. 16/176;

2. International Monetary Fund, 2016, “Vietnam 2016 Article IV Consultation”, IMF Country Report No. 16/240;

3. Charnes, Cooper and Rhodes, 1978, “Measuring the efficiency of decision making units”, European Journal of Operational Research”.

4.  Đề án “Cơ cấu lại hệ thống các TCTD gắn với xử lý nợ xấu giai đoạn 2016-2020” ban hành kèm theo Quyết định số 1058/QĐ-TTg ngày 1/3/20119/7/2017);

5. Nghị quyết 42/2017/QH14 về thí điểm xử lý nợ xấu của các TCTD.

6. Báo cáo tài chính và báo cáo thường niên của NHNN, các NHTM.

7. Các văn bản pháp luật có liên quan.

8. Các báo cáo chuyên đề được công bố của NHNN.

9. Webside và báo điện tử: www.sbv.gov.vn; http://vneconomy.vn; http://bizlive.vn... và một số website, tài liệu tham 
khảo khác…


ThS. Trần Anh Quý
TS. Vũ Mai Chi

Theo TCNH số 8/2020

Bình luận Ý kiến của bạn sẽ được biên tập trước khi đăng. Xin vui lòng gõ tiếng Việt có dấu
Tâm lý nhà đầu tư trên thị trường tài chính Việt Nam

Thị trường tiền tệ

Trên thị trường, tâm lý các nhà đầu tư luôn chi phối rất lớn đến mức độ ổn định của thị trường, đặc biệt là đối với thị trường tài chính, sự tác động của yếu tố tâm lý luôn diễn biến rất phức tạp, khiến thị trường tài chính luôn tiềm ẩn yếu tố bất ổn định rất cao