Thứ Bảy, ngày 17 tháng 04 năm 2021

Điều hành chính sách tiền tệ hỗ trợ nền kinh tế chống đỡ với đại dịch Covid-19 và định hướng năm 2021

Ngày đăng:09:27 30/03/2021
Lượt xem: 2.288
Cỡ chữ
Năm 2020 tiếp tục là năm nối tiếp thành công trong công tác điều hành kinh tế vĩ mô nói chung và điều hành chính sách tiền tệ (CSTT) của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN) nói riêng, trong bối cảnh phải đối mặt với khủng hoảng đại dịch Covid-19 toàn cầu cùng với ảnh hưởng khắc nghiệt của thiên tai, dịch bệnh trong nước, diễn biến kinh tế, chính trị khó lường trên thế giới.
Công tác điều hành CSTT đã góp phần quan trọng trong việc đạt mục tiêu kiểm soát lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô, hỗ trợ hoạt động sản xuất kinh doanh, tạo đà phục hồi nền kinh tế. 
 
1. Bối cảnh thế giới và trong nước năm 2020 và 2 tháng đầu năm 2021
 
Bức tranh toàn cầu năm 2020 khởi đầu ảm đạm với sự bùng phát, lây lan nhanh chóng của đại dịch Covid-19, kéo theo suy thoái kinh tế toàn cầu nghiêm trọng nhất kể từ Đại suy thoái 1929 - 1933. Bên cạnh thiệt hại về con người, do phải cách ly và phong tỏa xã hội, dịch bệnh đã làm tê liệt nhiều hoạt động kinh tế, thương mại, đầu tư toàn cầu; các giao dịch xuyên biên giới sụt giảm mạnh, tỷ lệ thất nghiệp tăng cao đột ngột, làm “đứt gãy” các chuỗi cung ứng toàn cầu1. Theo IMF2, kinh tế toàn cầu năm 2020 thu hẹp -3,5%, suy thoái nghiêm trọng hơn khủng hoảng tài chính toàn cầu năm 2008 - 2009 (giảm -0,1%), đặc biệt là tại các nước phát triển3. Thị trường tài chính, tiền tệ thế giới biến động; giá dầu sụt giảm mạnh, có thời điểm giá dầu tương lai lao dốc xuống mức “âm” lần đầu tiên trong lịch sử; chứng khoán toàn cầu giảm sâu, nhiều phiên rơi vào trạng thái “ngắt mạch”, một số thời điểm nhà đầu tư bán tháo chứng khoán và tháo chạy khỏi thị trường mới nổi; giá vàng tăng cao kỷ lục do tâm lý phòng vệ, lo sợ dịch bệnh, xu hướng giảm giá đồng USD và khả năng lạm phát tương lai. Trong bối cảnh đó, hàng loạt các biện pháp hỗ trợ với quy mô lớn nhất trong lịch sử và thực thi chính sách “chưa từng có tiền lệ” đã được chính phủ và ngân hàng trung ương (NHTW) nhiều nước thực hiện nhằm giảm thiểu tác động của dịch bệnh và phục hồi kinh tế, ổn định thị trường tiền tệ, ngoại hối và kiểm soát dòng vốn… Bên cạnh đó, năm 2020, thế giới cũng đối mặt với nhiều vấn đề hệ trọng tác động đến việc định hình cục diện kinh tế, chính trị các năm tới đây như căng thẳng thương mại giữa các nước lớn tiếp tục gia tăng (Mỹ - Trung, Trung - Ấn, Trung - Úc…), bầu cử Tổng thống Mỹ, tiến trình Brexit… (Đồ thị 1)
 

 
Trong nước, hai đợt bùng phát Covid-19 đã tác động trực diện, sâu rộng đến nhiều mặt của đời sống kinh tế, xã hội; sản xuất kinh doanh đình trệ, nhiều hoạt động kinh tế, văn hóa, xã hội bị ảnh hưởng nghiêm trọng, đặc biệt là các lĩnh vực dịch vụ vận tải, kho bãi, du lịch, nhà hàng, khách sạn, vui chơi giải trí…; hàng triệu lao động thiếu, mất việc làm, thu nhập người lao động suy giảm nghiêm trọng. Trong khi đó, biến đổi khí hậu, thời tiết cực đoan, thiên tai, hạn hán, lũ lụt tại các tỉnh miền núi phía Bắc, miền Trung, Tây Nguyên và xâm nhập mặn ở Đồng bằng sông Cửu Long đã gây thiệt hại nặng nề, ảnh hưởng nghiêm trọng đến sản xuất và đời sống của hàng triệu người dân. Trước diễn biến đó, Đảng, Quốc hội, Chính phủ đã đưa ra nhiều chủ trương, chính sách phản ứng nhanh nhạy, kịp thời, có hiệu quả cao, xử lý được các vấn đề cấp bách của nền kinh tế, thông qua việc ban hành Kết luận số 77-KL/TW ngày 05/6/2020 của Bộ Chính trị về “Chủ trương khắc phục tác động của đại dịch Covid-19 để phục hồi và phát triển kinh tế đất nước”, vừa mang tính cấp bách vừa căn cơ, chỉ đạo tập trung thực hiện các giải pháp bảo vệ sức khỏe của nhân dân, tháo gỡ khó khăn cho sản xuất kinh doanh, đồng thời biến “nguy” thành “cơ” để thúc đẩy mạnh mẽ chuyển dịch cơ cấu kinh tế.
 
Với sự vào cuộc quyết liệt, tinh thần đoàn kết, đồng lòng của hệ thống chính trị và sự nhiệt tình ủng hộ của các tầng lớp nhân dân, nước ta đã khắc phục khó khăn để vươn lên mạnh mẽ, thực hiện thành công “mục tiêu kép”: Vừa phòng, chống đại dịch Covid-19, vừa phục hồi, phát triển kinh tế, bảo đảm đời sống nhân dân. Nhờ đó, năm 2020, nền tảng vĩ mô được duy trì ổn định, lạm phát bình quân được kiểm soát ở mức 3,23%, dưới mục tiêu 4% Quốc hội đề ra, các cân đối lớn của nền kinh tế được bảo đảm. Tăng trưởng kinh tế đạt 2,91%, thuộc nhóm các nước có mức tăng cao nhất trong khu vực và thế giới trong bối cảnh suy thoái nghiêm trọng diễn ra trên phạm vi toàn cầu. Xu hướng này tiếp diễn trong những tháng đầu năm 2021, theo đó sản xuất tiếp tục hồi phục tích cực với chỉ số sản xuất công nghiệp 2 tháng đầu năm 2021 tăng 7,4% so với cùng kỳ năm 2020, trong đó công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 10,4%; đầu tư từ ngân sách Nhà nước đạt 9% kế hoạch, đây là tiến độ cao nhất trong 5 năm gần đây; đầu tư FDI thực hiện tăng 2%; xuất, nhập khẩu tăng mạnh 23,2% và 25,9% so với cùng kỳ năm 2020;…
 
2. Dấu ấn điều hành CSTT của NHNN ứng phó với đại dịch Covid-19
 
Những kết quả nổi bật trên đây có sự đóng góp đáng kể của ngành Ngân hàng. Các giải pháp tiền tệ, tín dụng hỗ trợ doanh nghiệp, người dân ứng phó với các cú sốc nêu trên đã được NHNN chủ động triển khai quyết liệt, kịp thời, góp phần quan trọng trong việc đạt mục tiêu kiểm soát lạm phát, củng cố nền tảng vĩ mô, duy trì môi trường kinh doanh lành mạnh, hỗ trợ đà phục hồi tăng trưởng kinh tế. Cụ thể:
 
Thứ nhất, điều hành đồng bộ, linh hoạt các công cụ CSTT để ổn định thị trường, kiểm soát lạm phát và hỗ trợ kinh tế ứng phó với tác động bất lợi của đại dịch Covid-19. Các công cụ CSTT được điều hành đồng bộ, linh hoạt; đồng thời, CSTT cũng được phối hợp chặt chẽ với các chính sách kinh tế vĩ mô khác để điều tiết thanh khoản, kiểm soát tiền tệ, giảm thiểu áp lực gia tăng lạm phát, hỗ trợ tăng trưởng kinh tế4. Lạm phát cơ bản bình quân ổn định ở mức 2,31% (năm 2019 là 2,01%) cho thấy sự phù hợp của công tác điều hành CSTT, đóng góp tích cực đến việc ổn định lạm phát bình quân chung. Lạm phát được kiểm soát ổn định đã tạo lập nền tảng vững chắc, duy trì niềm tin của cộng đồng doanh nghiệp đối với môi trường kinh doanh Việt Nam, góp phần thu hút đầu tư nước ngoài. (Đồ thị 2)
 

 
Thứ hai, liên tục điều chỉnh giảm đồng bộ các mức lãi suất với quy mô lớn, để hỗ trợ nền kinh tế5. Tính chung trong năm 2020 và 2 tháng đầu năm 2021, NHNN đã điều chỉnh giảm 1,5 - 2,0%/năm lãi suất điều hành6, sẵn sàng hỗ trợ thanh khoản, tạo điều kiện cho các tổ chức tín dụng (TCTD) tiếp cận nguồn vốn chi phí thấp từ NHNN; giảm 1,5%/năm trần lãi suất cho vay ngắn hạn VND đối với các lĩnh vực ưu tiên để hỗ trợ giảm chi phí vay vốn của doanh nghiệp, người dân. Đồng thời, chỉ đạo các TCTD chủ động cân đối khả năng tài chính để áp dụng lãi suất cho vay hợp lý; triệt để tiết giảm chi phí hoạt động, tập trung mọi nguồn lực để giảm lãi suất cho vay nhằm hỗ trợ và đồng hành cùng doanh nghiệp, người dân vượt qua khó khăn. So với các nước trong khu vực, Việt Nam là một trong các quốc gia có mức giảm lãi suất điều hành mạnh nhất7.
 
Nhờ đó, mặt bằng lãi suất thị trường giảm, lãi suất cho vay ngắn hạn tối đa bằng VND đối với các lĩnh vực ưu tiên của TCTD giảm 1,5%/năm so với cuối năm 2019 (cuối năm 2020 là 4,5%/năm); lãi suất cho vay bình quân của các NHTM áp dụng cho các khoản vay mới phát sinh giảm hơn 1%/năm trong năm 2020 và tiếp tục giảm 0,07%/năm đến hết tháng 01/2021. (Đồ thị 3)

 
Thứ ba, song song với định hướng giảm lãi suất cho vay đối với nền kinh tế, để kịp thời tháo gỡ khó khăn cho nền kinh tế, NHNN đã ban hành Thông tư số 01/2020/TT-NHNN ngày 13/3/2020 quy định về việc TCTD, chi nhánh ngân hàng nước ngoài cơ cấu lại thời hạn trả nợ, miễn, giảm lãi, phí, giữ nguyên nhóm nợ nhằm hỗ trợ khách hàng chịu ảnh hưởng do dịch Covid-19, tạo hành lang pháp lý, cơ chế đột phá để các TCTD tháo gỡ khó khăn về vốn vay cho khách hàng (cơ cấu lại nợ gốc và lãi, không chuyển nhóm nợ, không tính lãi phạt, miễn, giảm lãi, phí), đồng thời liên tục tổ chức các hội nghị kết nối Ngân hàng - Doanh nghiệp trên toàn quốc, khảo sát thực địa, tiếp nhận và giải quyết kịp thời khó khăn, vướng mắc của người dân, doanh nghiệp.
 
Đến 22/02/2021, hệ thống các TCTD đã: (1) Cơ cấu lại thời hạn trả nợ cho 265.191 khách hàng bị ảnh hưởng bởi đại dịch Covid-19 với dư nợ 366.309 tỷ đồng; (2) Miễn, giảm, hạ lãi suất cho 625.064 khách hàng với dư nợ 1.061.522 tỷ đồng; (3) Cho vay mới lãi suất ưu đãi với doanh số lũy kế từ 23/01/2020 đến 22/02/2021 đạt 2.655.887 tỷ đồng cho 426.134 khách hàng. Ngoài ra, Ngân hàng Chính sách xã hội (NHCSXH) đã thực hiện gia hạn nợ cho 169.770 khách hàng với dư nợ 4.230 tỷ đồng, cho vay mới đối với 2.258.413 khách hàng với số tiền 81.000 tỷ đồng. (Bảng 1)

 
Thứ tư, trong bối cảnh cầu tín dụng của nền kinh tế suy yếu do tác động tiêu cực của dịch bệnh Covid-19, NHNN đã chỉ đạo các TCTD tập trung mọi nguồn lực, cải thiện quy trình, thủ tục cho vay để nâng cao khả năng tiếp cận vốn của nền kinh tế, giảm lãi suất cho vay và lợi nhuận để hỗ trợ khách hàng; đồng thời, NHNN chủ động thường xuyên rà soát để điều chỉnh chỉ tiêu tăng trưởng tín dụng cho các TCTD có khả năng mở rộng tín dụng an toàn, lành mạnh. Với việc triển khai kịp thời các giải pháp đồng bộ, quyết liệt của NHNN cùng sự tích cực, chủ động vào cuộc của hệ thống các TCTD, chia sẻ khó khăn với nền kinh tế, song song với sự phục hồi nhanh của nền kinh tế, tín dụng ngân hàng tăng nhanh hơn từ giữa quý III/2020. Đến cuối năm 2020, dư nợ tín dụng toàn hệ thống tăng 12,17% so với cuối năm 2019, ngày 08/3/2021 tiếp tục tăng 0,61% so với cuối năm 2020, tăng trưởng tín dụng đảm bảo phù hợp với chỉ tiêu định hướng, khả năng hấp thụ vốn của nền kinh tế, đi đôi với chất lượng tín dụng. Cơ cấu tín dụng tiếp tục có sự điều chỉnh tích cực, tín dụng có xu hướng tập trung vào các lĩnh vực có đóng góp và là động lực của tăng trưởng kinh tế như lĩnh vực sản xuất kinh doanh8, lĩnh vực ưu tiên9; trong khi đó, tín dụng đối với lĩnh vực tiềm ẩn rủi ro được hệ thống các TCTD kiểm soát chặt chẽ10.
 
Thứ năm, điều hành, công bố tỷ giá trung tâm linh hoạt hàng ngày, phù hợp với thị trường trong và ngoài nước, cân đối kinh tế vĩ mô, tiền tệ và mục tiêu CSTT; góp phần hạn chế tình trạng đầu cơ, găm giữ ngoại tệ và hấp thu các cú sốc đối với nền kinh tế. Đồng thời, kết hợp với các giải pháp điều tiết thanh khoản hợp lý, chủ động truyền thông, can thiệp mua/bán ngoại tệ với TCTD để bình ổn thị trường, ổn định kinh tế vĩ mô, góp phần kiểm soát lạm phát.
 
Nhờ đó, cuối năm 2020, tỷ giá trung tâm ở mức 23.131 VND/USD, giảm -0,1% cuối năm 2019; tỷ giá bình quân liên ngân hàng khoảng 23.090 VND/USD, giảm -0,35% so với cuối năm 2019. Thanh khoản thị trường tốt, các nhu cầu ngoại tệ hợp pháp được đáp ứng đầy đủ, kịp thời. Dự trữ ngoại hối Nhà nước tăng cao giúp gia tăng tiềm lực tài chính và củng cố uy tín quốc gia. Thị trường ngoại tệ duy trì ổn định trong những tháng đầu năm 2021, theo đó ngày 11/3/2021, tỷ giá trung tâm ở mức 23.204 VND/USD, tăng 0,32% so với mức cuối năm 2020; tỷ giá bình quân liên ngân hàng ở mức 23.051 VND/USD, giảm -0,17% so với cuối năm 2020.
 
Thứ sáu, CSTT cũng được điều hành phối hợp chặt chẽ với chính sách tài khóa và các chính sách khác. NHNN thường xuyên trao đổi thông tin, phối hợp chặt chẽ với các bộ, ngành trong công tác điều hành CSTT, giá hàng hóa dịch vụ, dự báo lạm phát; đồng thời, phối hợp chặt chẽ với Bộ Tài chính trong trao đổi thông tin về tiền gửi có kỳ hạn của Kho bạc Nhà nước tại hệ thống ngân hàng, qua đó ổn định thanh khoản hệ thống, kiểm soát tiền tệ, tạo điều kiện để giảm lãi suất trái phiếu chính phủ khoảng 0,78 - 1,41%/năm ở các kỳ hạn 5 - 30 năm so với cuối năm 2019 và kéo dài kỳ hạn phát hành (tập trung ở kỳ hạn 10 - 15 năm, chiếm khoảng 80% khối lượng phát hành) trong năm 2020. Tình hình thực tế trong 2 tháng đầu năm 2021 cho thấy, mặt bằng lãi suất trái phiếu chính phủ tiếp tục xu hướng giảm khoảng 0,1 - 0,19%/năm ở các kỳ hạn; đến cuối tháng 2/2021, lãi suất kỳ hạn 5 năm là 1,03%/năm; 10 năm là 2,17%/năm; 15 năm là 2,4%/năm; 20 năm: 2,89%/năm; 30 năm là 3,01%/năm.
 
Những kết quả tích cực về ổn định vĩ mô, thị trường tài chính tiền tệ, tạo lập môi trường kinh doanh thuận lợi, hỗ trợ tháo gỡ khó khăn cho nền kinh tế... cho thấy, các giải pháp ngành Ngân hàng thực thi thời gian qua là đúng hướng, có tác dụng thiết thực đối với các doanh nghiệp và người dân, góp phần thực hiện thắng lợi “mục tiêu kép” và đóng góp lớn vào thành tựu chung về các chỉ số phát triển kinh tế - xã hội của cả nước mà Đảng và Quốc hội đã đề ra, tạo nền tảng vững chắc tiếp tục thực hiện các mục tiêu trong giai đoạn tới. Mặc dù vậy, thị trường thế giới còn diễn biến bất thường, đặc biệt đại dịch Covid-19, thiên tai, dịch bệnh diễn biến khó lường còn tiếp tục ảnh hưởng tiêu cực tới nền kinh tế và hệ thống ngân hàng trong nước, tăng trưởng kinh tế ở mức thấp (mặc dù là số ít trong các quốc gia có tăng trưởng dương), lạm phát vẫn chịu áp lực khó lường từ giá cả thế giới, áp lực nợ xấu hệ thống ngân hàng gia tăng từ tác động của đại dịch... là những thách thức to lớn đối với ngành Ngân hàng trong thời gian tới.
 
3. Triển vọng kinh tế năm 2021
 
Năm 2021, kinh tế thế giới được dự báo sẽ phục hồi nhanh hơn kỳ vọng do quá trình tiêm chủng vaccine ngừa Covid-19 đang diễn ra khá nhanh và sự thích nghi với dịch bệnh của các nền kinh tế, các tổ chức quốc tế dự báo kinh tế thế giới năm 2021 tăng trưởng khoảng 4,0 - 5,6%. Tuy nhiên, kinh tế thế giới vẫn còn tiềm ẩn nhiều bất trắc và rủi ro khi đại dịch Covid-19 chưa kết thúc, thị trường dầu mỏ, giá vàng, đồng USD… có thể biến động thất thường, xu hướng bảo hộ, cạnh tranh chiến lược giữa một số quốc gia, khu vực tiếp tục diễn ra gay gắt, nợ công trên phạm vi toàn cầu, từ đó kéo theo những nguy cơ, thách thức mới về tăng trưởng, bất bình đẳng xã hội, nghèo đói và các vấn đề an sinh xã hội khác. Các quốc gia trên thế giới tiếp tục duy trì các giải pháp hỗ trợ phục hồi kinh tế, điều này sẽ là tiền đề, cơ hội tốt để một nền kinh tế hội nhập, có độ mở cao như nước ta có nhiều dư địa “đi tắt, đón đầu” vươn lên phát triển nhanh và bền vững hơn. Các tổ chức quốc tế dự báo kinh tế Việt Nam năm 2021 thuộc nhóm nước có tốc độ tăng trưởng cao so với khu vực và thế giới, từ 6,1 - 8,6%11. Mặc dù vậy, dự báo chúng ta tiếp tục còn gặp nhiều khó khăn, thách thức. Diễn biến khó lường của dịch bệnh trong và ngoài nước, cùng với việc tái áp dụng các biện pháp kiểm soát, phong tỏa, có thể ảnh hưởng tiêu cực tới triển vọng kinh tế năm 2021. Nguồn lực trong nước còn hạn hẹp trong khi phải đáp ứng cùng lúc các yêu cầu rất lớn cho đầu tư phát triển, phòng, chống dịch bệnh, bảo đảm an sinh xã hội. Tác động của biến đổi khí hậu, thiên tai, hạn hán, xâm nhập mặn ngày càng nghiêm trọng. Bên cạnh đó, xu hướng dịch chuyển đầu tư, thương mại, chuyển đổi số, sự phát triển các mô hình kinh doanh mới, sự thay đổi phương thức sản xuất, tiêu dùng và giao tiếp trên toàn cầu, sự phát triển mạnh mẽ của các ứng dụng khoa học công nghệ từ cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư… vừa là thời cơ, nhưng cũng là thách thức đòi hỏi chúng ta phải tiếp tục nỗ lực đổi mới, hành động quyết liệt hơn, hiệu quả hơn trong năm 2021 và những năm tiếp theo.
 
4. Định hướng điều hành CSTT năm 2021
 
Trong bối cảnh thời cơ, thuận lợi, khó khăn, thách thức đan xen, kế thừa những thành tựu quan trọng và toàn diện đã đạt được trong năm 2020 và các năm trước đó, công tác điều hành CSTT và hoạt động ngân hàng năm 2021 sẽ bám sát diễn biến trong, ngoài nước để cụ thể hóa thành các nhiệm vụ, giải pháp nhằm thực hiện thắng lợi Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội năm 2021 được Quốc hội, Chính phủ đề ra. Đồng thời, NHNN sẽ tiếp tục chủ động, linh hoạt, nỗ lực chung tay cùng các bộ, ngành hỗ trợ nền kinh tế kiên cường vượt qua đại dịch, ổn định kinh tế vĩ mô và lạm phát, tạo môi trường kinh doanh lành mạnh. Trong đó, tập trung vào các giải pháp trọng tâm sau đây: 
 
Một là, tiếp tục chỉ đạo, hướng dẫn triển khai đồng bộ các giải pháp tháo gỡ khó khăn cho doanh nghiệp và người dân bị ảnh hưởng bởi đại dịch Covid-19 mà trọng tâm là sửa đổi, bổ sung Thông tư 01/2020/TT-NHNN; hỗ trợ khắc phục hậu quả thiên tai, dịch bệnh; hỗ trợ và tạo điều kiện để NHCSXH thực hiện tốt các chương trình, chính sách tín dụng ưu đãi theo chỉ đạo của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ. Chỉ đạo TCTD tăng trưởng tín dụng an toàn, hiệu quả, tập trung tín dụng vào các lĩnh vực sản xuất, lĩnh vực ưu tiên theo chủ trương của Chính phủ; tiếp tục kiểm soát chặt chẽ tín dụng đối với các lĩnh vực rủi ro; tạo điều kiện thuận lợi cho doanh nghiệp và người dân tiếp cận vốn tín dụng ngân hàng, góp phần hạn chế tín dụng đen. 
 
Hai là, theo dõi sát diễn biến kinh tế vĩ mô, tiền tệ, tình hình dịch bệnh trong nước và quốc tế để chủ động điều hành đồng bộ, linh hoạt các công cụ CSTT, phối hợp chặt chẽ với chính sách tài khóa và các chính sách kinh tế vĩ mô khác nhằm kiểm soát lạm phát theo mục tiêu năm 2021 bình quân khoảng 4%, hỗ trợ ổn định kinh tế vĩ mô, góp phần phục hồi tăng trưởng kinh tế, duy trì ổn định thị trường tiền tệ và ngoại hối. Điều hành lãi suất phù hợp với cân đối vĩ mô, lạm phát, diễn biến thị trường và mục tiêu CSTT, tạo điều kiện giảm chi phí vốn cho người dân, doanh nghiệp và nền kinh tế. Điều hành tỷ giá linh hoạt, phù hợp với tình hình thị trường trong và ngoài nước, các cân đối vĩ mô, tiền tệ và mục tiêu CSTT; tăng dự trữ ngoại hối Nhà nước khi điều kiện thị trường thuận lợi.
 
Ba là, tiếp tục nâng cao hiệu quả, hiệu lực điều hành CSTT và hoạt động ngân hàng góp phần thúc đẩy hiệu quả chu chuyển vốn trong nền kinh tế: (1) Tăng cường hiệu lực, hiệu quả công tác thanh tra, giám sát ngân hàng, đẩy mạnh cơ cấu lại hệ thống ngân hàng gắn với xử lý nợ xấu; (2) Chủ trì, phối hợp với các bộ, ngành triển khai hiệu quả các mô hình thanh toán tại nông thôn, vùng sâu, vùng xa gắn với triển khai mạnh mẽ Chiến lược tài chính toàn diện quốc gia, thực hiện chủ trương “không để ai bị bỏ lại phía sau” của Chính phủ; (3) Đẩy mạnh thanh toán không dùng tiền mặt, xây dựng hạ tầng công nghệ, nâng cao chất lượng thanh toán, đảm bảo an ninh, an toàn hoạt động thanh toán, mở rộng thanh toán điện tử khu vực Chính phủ, dịch vụ công, đẩy nhanh chuyển đổi số hoạt động ngân hàng.

 
1 WTO (10/2020) dự báo thương mại toàn cầu năm 2020 giảm 9,2%; WB (1/2021) ước thương mại toàn cầu năm 2020 giảm 9,5%.
 
2 IMF (1/2020), Báo cáo Cập nhật Triển vọng kinh tế toàn cầu.
 
3 Tăng trưởng GDP năm 2020 của Mỹ là -3,4%; châu Âu: -7,2%; Nhật Bản: -5,1%; Anh: -10%; Canada: -5,5%.
 
4 Để hỗ trợ doanh nghiệp, người lao động bị ảnh hưởng bởi dịch Covid-19, NHNN kịp thời ban hành Thông tư 05/2020/TT-NHNN ngày 07/5/2020 và Thông tư số 12/2020/TT-NHNN ngày 11/11/2020 sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 05/2020/TT-NHNN về việc tái cấp vốn đối với NHCSXH để NHCSXH cho người sử dụng lao động vay trả lương ngừng việc đối với người lao động theo Quyết định số 15/2020/QĐ-TTg và Quyết định số 32/2020/QĐ-TTg, với tổng số tiền tái cấp vốn tối đa 16.000 tỷ đồng, lãi suất 0%/năm, thời hạn NHNN giải ngân tái cấp vốn đối với NHCSXH đến hết ngày 31/01/2021...
 
5Cụ thể: (1) Ngày 17/3/2020, NHNN giảm 0,5 - 1%/năm lãi suất điều hành; giảm 0,25 - 0,3%/năm trần lãi suất tiền gửi VND các kỳ hạn dưới 6 tháng và giảm 0,5%/năm trần lãi suất cho vay ngắn hạn VND đối với các lĩnh vực ưu tiên. (2) Ngày 13/5/2020, NHNN tiếp tục điều chỉnh giảm 0,5%/năm các mức lãi suất điều hành; giảm 0,3 - 0,5%/năm trần lãi suất tiền gửi VND các kỳ hạn dưới 6 tháng và giảm 0,5%/năm trần lãi suất cho vay ngắn hạn VND đối với các lĩnh vực ưu tiên. (3) Tiếp đó, ngày 01/10/2020, NHNN tiếp tục giảm đồng bộ 0,5%/năm các mức lãi suất điều hành, giảm 0,25%/năm trần lãi suất tiền gửi VND từ 1 đến dưới 6 tháng và giảm 0,5%/năm trần lãi suất cho vay ngắn hạn VND đối với các lĩnh vực ưu tiên.
 
6Lãi suất tái cấp vốn giảm từ mức 6,0%/năm xuống 4,0%/năm; Lãi suất tái chiết khấu giảm từ mức 4,0%/năm xuống 2,5%/năm; Lãi suất cho vay qua đêm trong thanh toán điện tử liên ngân hàng và cho vay bù đắp thiếu hụt vốn trong thanh toán bù trừ của NHNN với các ngân hàng giảm từ mức 7%/năm xuống mức 5,0%/năm; Lãi suất chào mua giấy tờ có giá trên thị trường mở giảm từ 4,0%/năm xuống 2,5%/năm.
 
7 Mức giảm lãi suất điều hành của một số NHTW châu Á tính chung trong năm 2020 và 2 tháng đầu năm 2021 như sau: Philippines: -2%; Thái Lan: -0,75%; Malaysia: - 1,25%; Indonesia: -1,5%; Ấn Độ: -1,15%; Trung Quốc: -0,3%.
 
8 Đến tháng 12/2020, tín dụng đối với ngành công nghiệp tăng 11,18% so với cuối năm 2019, chiếm 18,85% tổng dư nợ tín dụng toàn hệ thống; tín dụng đối với ngành xây dựng tăng 6,47%, chiếm 9,29%; tín dụng đối với ngành dịch vụ tăng 13,9%, chiếm 63,43%.
 
9 Đến tháng 12/2020, tín dụng đối với lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn tăng 11,52%, chiếm 24,78% tổng dư nợ tín dụng toàn hệ thống; tín dụng đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa tăng 13,56%, chiếm 19,8%; tín dụng đối với lĩnh vực xuất khẩu tăng 13,66%, chiếm 2,96%; tín dụng đối với doanh nghiệp ứng dụng công nghệ cao tăng 5,26%, chiếm 0,35%.
 
10 Đến cuối tháng 12/2020, dư nợ tín dụng đối với lĩnh vực bất động sản (bao gồm cả mục đích kinh doanh và mục đích tự sử dụng) tăng 11,89% so với cuối năm 2019, chiếm 19,56% tổng dư nợ tín dụng toàn hệ thống. 
 
11 IMF (BC Đoàn Điều IV, 3/2021): 6,5%; WB (01/2021): 6,7%; ADB (12/2020): 6,1%; HSBC (1/2021): 7,6%; Standard Chartered (1/2021): 7,8%; Fitch Solutions (1/2021): 8,6%.


ThS. Phạm Thanh Hà

Vụ trưởng Vụ Chính sách tiền tệ, NHNN

Tạp chí Ngân hàng số 6/2021
Bình luận Ý kiến của bạn sẽ được biên tập trước khi đăng. Xin vui lòng gõ tiếng Việt có dấu
Tâm lý nhà đầu tư trên thị trường tài chính Việt Nam

Thị trường tiền tệ

Trên thị trường, tâm lý các nhà đầu tư luôn chi phối rất lớn đến mức độ ổn định của thị trường, đặc biệt là đối với thị trường tài chính, sự tác động của yếu tố tâm lý luôn diễn biến rất phức tạp, khiến thị trường tài chính luôn tiềm ẩn yếu tố bất ổn định rất cao