Điều hành chính sách tiền tệ góp phần nâng hạng tín nhiệm quốc gia
12/10/2022 3.778 lượt xem
Trong bối cảnh kinh tế toàn cầu có nhiều thách thức, khó khăn với nguy cơ suy giảm tăng trưởng trước tác động thắt chặt chính sách tiền tệ của các ngân hàng trung ương trong nỗ lực kiểm soát lạm phát toàn cầu, kinh tế vĩ mô trong nước tiếp tục được đảm bảo ổn định, tăng trưởng kinh tế phục hồi, lạm phát được kiểm soát. Có thể nói, nền kinh tế trong nước đạt được những thành tựu lội ngược dòng đáng ghi nhận, được nhiều tổ chức quốc tế đánh giá cao. Đóng góp vào thành công đó, điều hành chính sách tiền tệ của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN) đóng vai trò quan trọng.
 

Theo số liệu của Tổng cục thống kê, GDP 9 tháng năm 2022 tăng 8,83% so với cùng kỳ năm trước, là mức tăng cao nhất của 9 tháng trong giai đoạn 2011 - 2022, các hoạt động sản xuất, kinh doanh dần lấy lại đà tăng trưởng, chính sách phục hồi và phát triển kinh tế - xã hội của Chính phủ đã phát huy hiệu quả. ​Lạm phát 9 tháng đầu năm 2022, tuy có những áp lực gia tăng đáng kể nhưng hiện vẫn đang được kiểm soát ở mức thấp hơn so với lạm phát nhiều quốc gia trên thế giới. Theo Tổng cục Thống kê, chỉ số giá tiêu dùng (CPI) tháng 9 tăng 4,01% và so với cùng kỳ năm trước tăng 3,94%. CPI bình quân quý III/2022 tăng 3,32% so với quý III/2021. Bình quân 9 tháng năm 2022, CPI tăng 2,73% so với cùng kỳ năm trước; lạm phát cơ bản tăng 1,88%. Mặc dù chịu áp lực gia tăng nhưng lạm phát năm 2022 nhiều khả năng vẫn được kiểm soát dưới mức mục tiêu 4%.

Điều hành lãi suất, tỷ giá, tín dụng linh hoạt trong bối cảnh nhiều thách thức

Trong 8 tháng đầu năm 2022, NHNN giữ nguyên các mức lãi suất điều hành trong bối cảnh lãi suất thế giới tăng nhanh (tính từ đầu năm 2022 đến nay, có tổng cộng 262 lượt tăng lãi suất trên toàn cầu) và áp lực lạm phát trong nước gia tăng, tạo điều kiện cho các tổ chức tín dụng (TCTD) tiếp cận nguồn vốn từ NHNN với chi phí thấp; chỉ đạo TCTD tiết giảm chi phí hoạt động để tiếp tục phấn đấu giảm lãi suất cho vay nhằm hỗ trợ và đồng hành cùng doanh nghiệp, người dân vượt qua khó khăn.

Tuy nhiên, trong bối cảnh xu hướng lạm phát quốc tế tiếp tục ở mức cao, Fed tăng lãi suất nhanh, mạnh và dự báo duy trì trên 4%/năm sau năm 2023, để tiếp tục thực hiện các biện pháp nhằm góp phần kiểm soát lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô, hỗ trợ phục hồi kinh tế, ổn định tỷ giá và thị trường ngoại hối, đảm bảo an toàn hoạt động ngân hàng, NHNN tiếp tục điều hành linh hoạt, phối hợp đồng bộ các công cụ và giải pháp chính sách tiền tệ. Theo đó, ngày 23/9/2022, NHNN điều chỉnh tăng 1%/năm lãi suất điều hành; tăng 0,3 - 1% lãi suất tiền gửi tối đa bằng VND tại TCTD1; giữ nguyên trần lãi suất cho vay đối với lĩnh vực ưu tiên. Đây là giải pháp kịp thời, phù hợp với xu hướng chung trên toàn thế giới để ưu tiên kiểm soát lạm phát, giữ ổn định tỷ giá.

Theo đó, trần lãi suất huy động được nới lên giúp lãi suất thực tiếp tục dương, người gửi tiền tiếp tục gửi tiền vào hệ thống ngân hàng, qua đó giúp hệ thống ngân hàng đảm bảo được nguồn vốn trong khi tỷ lệ dư nợ tín dụng/tiền gửi bằng VND đã ở mức cao ngay từ đầu tháng có thể dẫn đến rủi ro thanh khoản. Đồng thời nhờ tiếp tục huy động được nguồn vốn, hệ thống ngân hàng có đủ nguồn vốn để hỗ trợ quá trình phục hồi kinh tế.

Trong số trần lãi suất điều chỉnh tăng thì NHNN tăng lãi suất điều hành và trần lãi suất tiền gửi, đồng thời giữ nguyên trần lãi suất cho vay. Điều này thể hiện việc điều hành của NHNN đã hướng đến các mục tiêu ổn định mặt bằng lãi suất cho vay. Đồng thời, NHNN tiếp tục vận động các TCTD tiếp tục rà soát để tiết giảm các chi phí hoạt động. Qua đó, tạo điều kiện về mặt tài chính để giữ ổn định mặt bằng lãi suất cho vay hỗ trợ người dân và doanh nghiệp trong thời gian tới.

Trong điều hành tín dụng, ngay từ đầu năm 2022, để góp phần thực hiện mục tiêu tăng trưởng kinh tế khoảng 6 - 6,5%, lạm phát bình quân khoảng 4%, tại Chỉ thị số 01/CT-NHNN ngày 13/01/2022 (Chỉ thị 01), NHNN tiếp tục điều hành giao chỉ tiêu tăng trưởng tín dụng cho từng TCTD theo định hướng mức tăng trưởng tín dụng toàn hệ thống khoảng 14%, có điều chỉnh phù hợp với diễn biến, tình hình thực tế; chỉ đạo TCTD tăng trưởng tín dụng an toàn, hiệu quả, hướng tín dụng vào các lĩnh vực sản xuất, kinh doanh, lĩnh vực ưu tiên theo chủ trương của Chính phủ; kiểm soát chặt chẽ tín dụng vào các lĩnh vực tiềm ẩn rủi ro; tạo điều kiện thuận lợi cho người dân, doanh nghiệp tiếp cận vốn tín dụng ngân hàng.

Việc xây dựng chỉ tiêu tăng trưởng tín dụng được NHNN dựa trên các mô hình khoa học, được hỗ trợ kỹ thuật từ Quỹ Tiền tệ quốc tế (IMF) và các phương pháp tính toán khoa học, theo thông lệ quốc tế. Chỉ tiêu tăng trưởng tín dụng định hướng của hệ thống TCTD được NHNN linh hoạt điều chỉnh hằng năm và từng thời kỳ đảm bảo bám sát diễn biến kinh tế vĩ mô và thị trường tiền tệ, phù hợp với cân đối tổng thể các nguồn vốn khác của nền kinh tế và trên cơ sở đề nghị của TCTD để đảm bảo cung ứng đủ, kịp thời vốn tín dụng phù hợp với khả năng hấp thụ của nền kinh tế nhằm phục vụ tăng trưởng bền vững. Chỉ tiêu tăng trưởng tín dụng định hướng từ sau năm 2011 được NHNN đặt ra thấp hơn nhiều so với kết quả thực hiện giai đoạn 2006 - 2010 và có xu hướng giảm dần.

Diễn biến các chỉ tiêu tiền tệ đến thời điểm hiện tại phù hợp với mục tiêu điều hành của NHNN. Tính đến ngày 26/9/2022, tín dụng toàn nền kinh tế tăng 10,83% so với cuối năm 2021 và tăng 17,28% so với cùng kỳ 2021, tín dụng tăng theo đà hồi phục của nền kinh tế và chảy vào các lĩnh vực ưu tiên, sản xuất, kinh doanh.
 


Ảnh minh họa. Nguồn: Internet
 
Thị trường ngoại hối trong nước tương đối ổn định, các giải pháp chính sách của NHNN góp phần ổn định thị trường trong bối cảnh các đồng tiền khác mất giá mạnh so với USD, qua đó tạo niềm tin của người dân và doanh nghiệp đối với VND.

Bên cạnh đó, ngành Ngân hàng cũng quyết liệt triển khai chương trình hỗ trợ lãi suất 2% từ nguồn ngân sách nhà nước, nhằm giúp doanh nghiệp tiếp cận nguồn vốn rẻ, phục hồi sản xuất, kinh doanh. Trước đó, ngành Ngân hàng đã triển khai các chính sách về cơ cấu lại thời hạn trả nợ, miễn, giảm lãi, phí, giữ nguyên nhóm nợ… nhằm tháo gỡ khó khăn cho người dân, doanh nghiệp bị ảnh hưởng bởi đại dịch Covid-19.

Những kết quả trong công tác điều hành chính sách tiền tệ, tín dụng của NHNN trong năm 2022 nói riêng và nhiều năm trước đó đã đóng góp vào việc Việt Nam trở thành hội viên của tổ chức Ngân hàng Thanh toán Quốc tế (Bank for International Settlements - BIS) vào năm 2020. Thực tế, BIS có quy định rất chặt chẽ trong việc kết nạp hội viên, chỉ kết nạp thêm hội viên trên cơ sở chọn lọc các nền kinh tế có vai trò quan trọng và theo chiến lược, định hướng mở rộng vai trò của BIS trên toàn cầu. Chính vì vậy, việc kết nạp hội viên của BIS là rất hạn chế, thông thường 8 - 10 năm mới tiến hành kết nạp hội viên một lần, lần gần nhất là năm 2011. Các tiêu chí đưa ra để cân nhắc khi kết nạp hội viên bao gồm: (i) Quy mô, trình độ phát triển của nền kinh tế; và (ii) Trình độ quản trị của ngân hàng trung ương/cơ quan quản lý tiền tệ quốc gia. Hiện nay, châu Á đã có thành viên là các quốc gia lớn như Nhật bản, Hàn quốc, Trung quốc, Ấn độ. Trong khối ASEAN, các nước Inđônêsia, Thái Lan, Malaysia, Phillipines và Singapore đã là thành viên của BIS.

Tổ chức quốc tế, chuyên gia đánh giá cao điều hành chính sách tiền tệ của NHNN

Các nhà đầu tư quốc tế tiếp tục đánh giá cao về sự ổn định kinh tế vĩ mô và triển vọng kinh tế của Việt Nam. Một số tổ chức quốc tế đồng loạt nâng mức xếp hạng tín nhiệm của Việt Nam nhờ triển vọng tăng trưởng kinh tế mạnh mẽ, những cải thiện trong quản lý nợ công và vị thế đối ngoại tích cực giúp chống chịu với các cú sốc bên ngoài. Việt Nam được kỳ vọng sẽ tiếp tục thu hút dòng vốn FDI mạnh mẽ, hưởng lợi từ quá trình tái cấu trúc chuỗi cung ứng và tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị toàn cầu. S&P (tháng 5/2022) nâng mức xếp hạng tín nhiệm quốc gia dài hạn của Việt Nam từ BB lên BB+ triển vọng Ổn định. Moody’s (tháng 9/2022) nâng mức xếp hạng tín nhiệm cho Việt Nam từ mức Ba3 lên mức Ba2 triển vọng Ổn định. Đây là các tổ chức xếp hạng tín nhiệm quốc tế uy tín, luôn rất chặt chẽ trong quá trình nâng hạng cho các nước. Kết quả nâng hạng này là sự ghi nhận tốt cho những nỗ lực điều hành chính sách của Chính phủ trong thời gian qua.

Ông Francois Phainchaud, Trưởng Văn phòng Đại diện IMF tại Việt Nam nhận định Việt Nam đang phục hồi rất tốt. Các chương trình phục hồi và phát triển kinh tế - xã hội được triển khai mạnh mẽ, hiệu quả. Việt Nam đã duy trì chính sách tỷ giá ổn định, cho phép VND mất giá thấp hơn nhiều nước thông qua việc bán dự trữ ngoại hối, đồng thời để lãi suất trong ngắn hạn tăng, nhờ đó kiềm chế được lạm phát. Đặc biệt, NHNN đã có những nỗ lực để giảm lạm phát, giữ ổn định vĩ mô và các điều kiện tài chính cũng được điều hành chặt chẽ.

Cùng ý kiến trên, ông Andrew Jeffries, Giám đốc ADB tại Việt Nam cho rằng, Việt Nam đã có sự tự cường rất cao để đảm bảo được cân đối cho nền kinh tế. Sự thành công của Việt Nam mở ra triển vọng tốt đẹp đối với môi trường đầu tư và kinh doanh. Đồng thời, ông nhấn mạnh những nền tảng của nền kinh tế cũng đang được phục hồi nhanh, đặc biệt chính sách tài khóa và tiền tệ đã phát huy rất hiệu quả, tác động rất tích cực đến tiêu dùng. Ông đánh giá: “Việt Nam đã kiểm soát lạm phát thành công trong năm nay, bất chấp áp lực rất lớn từ việc giá năng lượng và giá hàng hóa toàn cầu tăng cao. Chính sách tiền tệ được Chính phủ thực hiện từ trước đến nay đã góp phần rất lớn vào thành công này, giúp kiểm soát nguồn cung tiền và đảm bảo nguồn cung tín dụng, giải quyết áp lực lạm phát, ổn định tỷ giá hối đoái, đồng thời cung cấp hỗ trợ tài chính cho các doanh nghiệp để phục vụ quá trình phục hồi. Tôi đánh giá cao Việt Nam đã có một chính sách cân bằng rất tinh tế và những nỗ lực của NHNN cần được ghi nhận”

Theo TS. Trần Hoàng Ngân, thành viên Hội đồng tư vấn chính sách tài chính, tiền tệ quốc gia, phân tích việc điều hành chính sách tiền tệ trong thời điểm hiện nay là cực kỳ khó khăn và thách thức không chỉ ở Việt Nam mà cả các ngân hàng trung ương trên thế giới đều đau đầu làm sao giải quyết hài hòa giữa kiểm soát lạm phát nhưng lại chống được suy thoái kinh tế. Mỗi một quốc gia đều lựa chọn công cụ điều hành dựa trên điều kiện thực tế của quốc gia mình cho phù hợp. “Điều hành chính sách tiền tệ hướng tới ba mục tiêu. Thứ nhất là ổn định kinh tế vĩ mô, lạm phát hiện đang được kiểm soát tốt. Thứ hai là thúc đẩy phát triển kinh tế, giải quyết công ăn việc làm thì kinh tế đang tăng trưởng tốt. Thứ ba là ổn định an ninh tài khóa, hệ thống ngân hàng quốc gia ổn định, hệ thống của chúng ta đang ổn định. Từ kết quả trên cho thấy, điều hành chính sách tiền tệ đang đi đúng hướng”, TS. Trần Hoàng Ngân nói.

Đánh giá về điều hành tỷ giá của NHNN, ông Võ Hữu Hiển, Phó Cục trưởng Cục Quản lý nợ và Tài chính đối ngoại (Bộ Tài chính) nhận định: “Nhờ giữ được tỷ giá và lạm phát, nên nợ công của Việt Nam không bị tác động tiêu cực trước sự mất giá của các loại tiền tệ khác so với USD, thậm chí còn giúp giảm dư nợ chính phủ so với cuối năm 2021. Cũng chính nhờ giữ vững được tỷ giá, nên trong 8 tháng đầu năm 2022, kim ngạch xuất khẩu của nước ta đạt 250,8 tỷ USD, tăng 17,3%; kim ngạch nhập khẩu là 246,84 tỷ USD, tăng 13,6%; xuất siêu 3,96 tỷ USD. Nhờ giữ được nhịp độ tăng trưởng xuất - nhập khẩu ở mức rất cao mà lại còn xuất siêu nên Việt Nam càng có điều kiện kiểm soát được tỷ giá”.

Đồng quan điểm, TS. Trương Văn Phước - Thành viên Hội đồng tư vấn chính sách tài chính, tiền tệ quốc gia cho rằng, kiềm chế lạm phát chúng ta đạt được như ngày hôm nay có sự đóng góp rất thầm lặng của chính sách tỷ giá của NHNN, cùng với ổn định tỷ giá góp phần ngăn ngừa sự lan rộng của lạm phát trên thế giới tới Việt Nam. Ở Việt Nam, tín dụng là kênh chủ yếu cung ứng vốn cho nền kinh tế. Trước mắt, duy trì room tín dụng là rất quan trọng. Việc NHNN vừa thông báo bổ sung tăng trưởng tín dụng là rất thích hợp.

Có thể thấy, thời gian tới, việc điều hành chính sách tiền tệ của NHNN còn gặp nhiều khó khăn, thách thức. Các ngân hàng trung ương lớn tiếp tục đẩy nhanh tiến trình thu hẹp nới lỏng chính sách tiền tệ, điều chỉnh tăng lãi suất nhanh và mạnh. Đồng USD tăng giá trên thị trường tiền tệ thế giới. Lạm phát trong và ngoài nước có xu hướng gia tăng do giá nguyên vật liệu thế giới tăng, chi phí vận chuyển tăng, nguồn cung gián đoạn. Mặt bằng lãi suất đã giảm ở mức thấp trong những năm trước đây và đang có xu hướng tăng trở lại chủ yếu do cầu tín dụng gia tăng khi kinh tế tăng trưởng trở lại.

Thời gian tới, NHNN cho biết sẽ tiếp tục điều hành chủ động, linh hoạt, đồng bộ các công cụ chính sách tiền tệ để kiểm soát lạm phát; duy trì ổn định vĩ mô, hỗ trợ phục hồi kinh tế; kêu gọi các TCTD tiết giảm chi phí hoạt động để phấn đấu giảm lãi suất cho vay, qua đó nhằm ổn định lãi suất cho vay để hỗ trợ doanh nghiệp, cá nhân phục hồi sản xuất, kinh doanh. Bên cạnh đó, đẩy mạnh triển khai thực hiện chính sách hỗ trợ lãi suất 2% theo quy định tại Nghị định số 31/2022/NĐ-CP về hỗ trợ lãi suất từ ngân sách nhà nước đối với khoản vay của doanh nghiệp, hợp tác xã, hộ kinh doanh.

Trong điều hành tín dụng, NHNN tiếp tục chỉ đạo các TCTD tăng trưởng tín dụng an toàn, hiệu quả, phù hợp theo hướng mở rộng tín dụng vào các lĩnh vực sản xuất, kinh doanh, lĩnh vực ưu tiên theo chủ trương của Chính phủ, cho vay phục vụ nhu cầu đời sống, tín dụng tiêu dùng với mức lãi suất hợp lý, đảm bảo an toàn vốn vay, hỗ trợ phục hồi và phát triển kinh tế xã hội; tiếp tục kiểm soát chặt chẽ rủi ro tín dụng đối với các lĩnh vực tiềm ẩn rủi ro; tiếp tục đánh giá hoạt động tín dụng đối với ngành, lĩnh vực, vai trò, khả năng phục hồi, phát triển bền vững của các ngành, lĩnh vực trong nền kinh tế để đề xuất giải pháp điều hành tín dụng phù hợp; kịp thời phối hợp các bộ, ngành liên quan xử lý khó khăn, vướng mắc phát sinh trong quá trình thực hiện.

Đồng thời, NHNN tiếp tục chỉ đạo các TCTD tiếp tục tạo điều kiện thuận lợi cho người dân, doanh nghiệp trong việc tiếp cận tín dụng, đáp ứng nhu cầu hợp pháp của người dân, góp phần hạn chế “tín dụng đen”; tăng cường phối hợp với các địa phương đẩy mạnh chương trình kết nối ngân hàng - doanh nghiệp; triển khai các chương trình tín dụng theo chỉ đạo của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ đối với các ngành, lĩnh vực. Bên cạnh đó, NHNN phối hợp với các bộ, ngành tháo gỡ vướng mắc trong việc triển khai các chương trình, chính sách tín dụng theo chỉ đạo của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ; đẩy mạnh triển khai nhiệm vụ của ngành Ngân hàng trong các Chương trình mục tiêu quốc gia (CTMTQG) như CTMTQG xây dựng nông thôn mới, CTMTQG giảm nghèo bền vững, CTMTQG phát triển vùng đồng bào dân tộc thiểu số theo Quyết định phê duyệt của cơ quan có thẩm quyền; nghiên cứu, triển khai nhiệm vụ của ngành Ngân hàng thực hiện chiến lược tăng trưởng xanh quốc gia giai đoạn 2021 - 2030, tầm nhìn đến năm 2050.

IMF khuyến nghị việc triển khai hỗ trợ phục hồi kinh tế thời gian tới của Việt Nam cần dựa chủ yếu vào chính sách tài khóa, trong khi chính sách tiền tệ cần thận trọng, chủ động thích ứng để đảm bảo kiểm soát lạm phát trước rủi ro ngày càng gia tăng.
 
Cụ thể: (i) Quyết định số 1606/QĐ-NHNN ngày 22/9/2022: Lãi suất tái cấp vốn tăng từ 4%/năm lên 5%/năm; lãi suất tái chiết khấu tăng từ 2,5%/năm lên 3,5%/năm; lãi suất cho vay qua đêm trong thanh toán điện tử liên ngân hàng và cho vay bù đắp thiếu hụt vốn trong thanh toán bù trừ của NHNN tăng từ 5%/năm lên 6%/năm. (ii) Quyết định số 1607/QĐ-NHNN ngày 22/9/2022 - trần lãi suất tiền gửi bằng VND tại các TCTD: Đối với tiền gửi không kỳ hạn và kỳ hạn dưới 1 tháng tăng từ 0,2%/năm lên 0,5%/năm, kỳ hạn 1 tháng - dưới 6 tháng tăng từ 4%/năm lên 5%/năm.

Tài liệu tham khảo:

1. https://www.gso.gov.vn
2. https://www.sbv.gov.vn
3.https://chinhphu.vn

Nguyễn Minh (Hà Nội)

Bình luận Ý kiến của bạn sẽ được kiểm duyệt trước khi đăng. Vui lòng gõ tiếng Việt có dấu
Đóng lại ok
Bình luận của bạn chờ kiểm duyệt từ Ban biên tập
Cần thực hiện đồng bộ các giải pháp nhằm tiếp tục tháo gỡ khó khăn cho doanh nghiệp
Cần thực hiện đồng bộ các giải pháp nhằm tiếp tục tháo gỡ khó khăn cho doanh nghiệp
02/02/2023 82 lượt xem
Thời gian qua, ngành Ngân hàng đã triển khai đồng bộ với tinh thần quyết liệt và khẩn trương chính sách hỗ trợ 2% lãi suất đối với một số ngành, lĩnh vực thuộc Chương trình phục hồi và phát triển kinh tế - xã hội. Thực tế, với doanh nghiệp vừa trải qua khó khăn sau hơn 02 năm chịu ảnh hưởng nặng nề của dịch bệnh Covid-19, bên cạnh hỗ trợ lãi suất, nhu cầu về vốn là rất quan trọng.
Giải pháp điều hành tín dụng ngành, lĩnh vực, góp phần hỗ trợ tăng trưởng kinh tế năm 2022 và định hướng năm 2023
Giải pháp điều hành tín dụng ngành, lĩnh vực, góp phần hỗ trợ tăng trưởng kinh tế năm 2022 và định hướng năm 2023
26/01/2023 99 lượt xem
Kinh tế trong nước năm 2022 phải đối mặt với nhiều khó khăn, thách thức, sức ép lạm phát gia tăng do các tác động từ bên ngoài; các thị trường trái phiếu doanh nghiệp, chứng khoán, bất động sản gặp khó khăn về thanh khoản, dòng tiền, tiềm ẩn rủi ro; giá xăng dầu, nguyên vật liệu biến động mạnh, ảnh hưởng lớn đến nhiều ngành, lĩnh vực; trong khi đó, thiên tai, dịch bệnh diễn biến phức tạp, gây thiệt hại cho sản xuất, kinh doanh và đời sống nhân dân.
Bàn về phát triển kinh tế tập thể ở nước ta hiện nay
Bàn về phát triển kinh tế tập thể ở nước ta hiện nay
19/01/2023 124 lượt xem
Hợp tác tập thể là hình thức tổ chức phổ quát nhất được biết đến ngày nay. Trên thực tế, hình thức này được tất cả các nước và mọi người vận dụng bằng những cách khác nhau.
Kết quả thực hiện chính sách tài khóa năm 2022 và định hướng năm 2023
Kết quả thực hiện chính sách tài khóa năm 2022 và định hướng năm 2023
17/01/2023 344 lượt xem
Năm 2022, nhiệm vụ tài chính - ngân sách nhà nước (NSNN) được triển khai trong bối cảnh tình hình thế giới và trong nước phát sinh nhiều biến động, diễn biến phức tạp khó lường. Dịch Covid-19 cơ bản được kiểm soát, nhưng căng thẳng địa chính trị, xung đột vũ trang và lạm phát tăng cao đã khiến đà phục hồi của nền kinh tế thế giới chậm lại, tiềm ẩn nguy cơ rủi ro, bất ổn trên thị trường tài chính, tiền tệ. Ở trong nước, nền kinh tế phục hồi nhanh, song vẫn còn nhiều khó khăn, áp lực kiểm soát lạm phát, tỷ giá, lãi suất, do ảnh hưởng tiêu cực từ khủng hoảng năng lượng và biến động mạnh của thị trường tài chính, tiền tệ toàn cầu; thị trường tài chính, tiền tệ, bất động sản, trái phiếu doanh nghiệp nhiều biến động... Tuy nhiên, với sự chủ động trong điều hành và triển khai thực hiện nhiều giải pháp hiệu quả, ngành Tài chính đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ tài chính - NSNN.
Giải pháp phát triển kinh tế chia sẻ ở Việt Nam
Giải pháp phát triển kinh tế chia sẻ ở Việt Nam
26/12/2022 1.143 lượt xem
Dưới tác động của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư (CMCN 4.0), thời đại “công nghệ số” hình thành dẫn đến việc ứng dụng công nghệ vào các lĩnh vực đời sống, xã hội và trở thành xu hướng phát triển tất yếu.
Hoàn thiện khuôn khổ pháp lý quản lý cho vay ngang hàng: Kinh nghiệm quốc tế và bài học đối với Việt Nam
Hoàn thiện khuôn khổ pháp lý quản lý cho vay ngang hàng: Kinh nghiệm quốc tế và bài học đối với Việt Nam
23/12/2022 1.347 lượt xem
Kinh nghiệm các quốc gia trong khu vực cho thấy, xu hướng phát triển nhanh chóng của mô hình cho vay ngang hàng (P2P Lending) đã khiến nhiều quốc gia trải qua sự thay đổi từ không quản lý sang cấp phép chặt chẽ đối với P2P Lending như Trung Quốc, Indonesia, Thái Lan để kiểm soát các rủi ro liên quan.
Chuyển đổi số ngành Ngân hàng góp phần hiện thực hóa mục tiêu Chiến lược quốc gia về phát triển kinh tế số, xã hội số
Chuyển đổi số ngành Ngân hàng góp phần hiện thực hóa mục tiêu Chiến lược quốc gia về phát triển kinh tế số, xã hội số
21/12/2022 1.338 lượt xem
Triển khai thực hiện Nghị quyết số 16/2021/QH15 ngày 27/7/2021 của Quốc hội về kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 5 năm 2021 - 2025, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 411/QĐ-TTg ngày 31/3/2022 phê duyệt Chiến lược quốc gia phát triển kinh tế số và xã hội số đến năm 2025, định hướng đến năm 2030 (Quyết định số 411); trong đó, nêu rõ nhiệm vụ phát triển kinh tế số và xã hội số được đặt ở mức ưu tiên cao trong các Chiến lược phát triển quốc gia.
Phát triển kinh tế số ở Việt Nam trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa
Phát triển kinh tế số ở Việt Nam trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa
19/12/2022 1.267 lượt xem
Đi cùng với xu hướng hội nhập quốc tế ngày càng nhanh chóng, sâu rộng và những tiến bộ vượt bậc từ cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư (CMCN 4.0), yêu cầu đặt ra cho mỗi quốc gia là phải đẩy mạnh phát triển kinh tế số. Tại Việt Nam, vấn đề công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước đã được Đảng và Nhà nước chủ trương tiến hành từ cuối thế kỷ XX cho đến nay.
Nền kinh tế độc lập, tự chủ và vai trò khu vực kinh tế nhà nước
Nền kinh tế độc lập, tự chủ và vai trò khu vực kinh tế nhà nước
16/12/2022 1.733 lượt xem
Độc lập, tự chủ là năng lực quốc gia trong giữ vững chủ quyền và sự tự quyết về đối nội, đối ngoại, nhất là lựa chọn con đường, mô hình phát triển, chế độ chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, quốc phòng, an ninh, đối ngoại. Trong đó, độc lập, tự chủ về kinh tế là nền tảng vật chất cơ bản để giữ vững độc lập, tự chủ về chính trị và tăng cường độc lập, tự chủ quốc gia. Không thể có độc lập, tự chủ về chính trị trong khi lệ thuộc về kinh tế.
Bancassurance tại Việt Nam: Cơ hội, thách thức và xu hướng phát triển
Bancassurance tại Việt Nam: Cơ hội, thách thức và xu hướng phát triển
15/12/2022 2.133 lượt xem
Phân phối bảo hiểm qua ngân hàng (Bancassurance) là mô hình liên kết kinh doanh phổ biến giữa ngân hàng và doanh nghiệp bảo hiểm, một kênh phân phối tiềm năng và đang tăng trưởng mạnh mẽ trong những năm gần đây bên cạnh các kênh phân phối bảo hiểm truyền thống khác.
Pháp luật về thứ tự ưu tiên thanh toán giữa các bên cùng nhận bảo đảm -  góc nhìn từ thực tiễn
Pháp luật về thứ tự ưu tiên thanh toán giữa các bên cùng nhận bảo đảm - góc nhìn từ thực tiễn
01/12/2022 1.392 lượt xem
Cả pháp luật Việt Nam và pháp luật của nhiều nước trên thế giới như Anh, Pháp… đều cho phép một tài sản có thể được sử dụng để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ đối với nhiều chủ thể khác nhau. Nếu một tài sản được dùng để bảo đảm thực hiện nhiều nghĩa vụ như vậy, khi xử lý tài sản để thu hồi nợ, bên nhận bảo đảm nào có thứ tự ưu tiên thanh toán thứ nhất thì sẽ được thanh toán đầu tiên từ số tiền thu được, số dư còn lại sau đó mới được dùng để thanh toán lần lượt cho các chủ nợ ưu tiên tiếp theo.
Một số vấn đề pháp lý về xử lý tài sản bảo đảm là quyền tài sản
Một số vấn đề pháp lý về xử lý tài sản bảo đảm là quyền tài sản
30/11/2022 1.356 lượt xem
Trong bài viết này, tác giả phân tích một số khía cạnh pháp lý về xử lý tài sản bảo đảm (TSBĐ) là quyền tài sản, bao gồm xác định phạm vi của TSBĐ là quyền tài sản để xử lý, xử lý TSBĐ là quyền tài sản có liên quan đến quyền lợi của người thứ ba và xử lý TSBĐ là quyền tài sản phát sinh từ hợp đồng.
Sửa đổi Luật BHTG nhằm đề cao sứ mệnh bảo vệ người gửi tiền
Sửa đổi Luật BHTG nhằm đề cao sứ mệnh bảo vệ người gửi tiền
29/11/2022 1.391 lượt xem
Luật Bảo hiểm tiền gửi (BHTG) là cơ sở pháp lý cao nhất điều chỉnh hoạt động BHTG tại Việt Nam. Luật BHTG đã được ban hành và thực hiện hơn 10 năm, đủ thời gian để tổng kết, đánh giá những tồn tại, hạn chế nhằm mục tiêu bảo vệ tốt hơn nữa quyền lợi hợp pháp của người gửi tiền.
Một số vấn đề pháp lý đối với tiền điện tử quốc gia
Một số vấn đề pháp lý đối với tiền điện tử quốc gia
28/11/2022 1.796 lượt xem
Trong bối cảnh toàn cầu gia tăng mạnh mẽ về các loại tiền điện tử của tư nhân, nhiều quốc gia đang cân nhắc về việc phát hành tiền điện tử quốc gia. Ở một số nước, NHTW đã tiến hành đến giai đoạn nâng cao của thử nghiệm tiền điện tử quốc gia như: Trung Quốc, Thụy Điển, Pháp, Thổ Nhĩ Kỳ...; còn một số khác đã chính thức phát hành tiền điện tử quốc gia như: Bahamas, Nigeria, Campuchia…
Tín dụng ngân hàng góp phần tích cực hỗ trợ phục hồi và tăng trưởng kinh tế
Tín dụng ngân hàng góp phần tích cực hỗ trợ phục hồi và tăng trưởng kinh tế
19/11/2022 2.252 lượt xem
Trong bối cảnh tình hình thế giới có nhiều diễn biến khó lường, kinh tế nhiều nước rơi vào vòng xoáy khủng hoảng, nền kinh tế Việt Nam vẫn nổi lên như một điểm sáng khi tổng sản phẩm trong nước (GDP) đến quý III/2022 tăng trưởng vượt mọi dự báo. Đóng góp vào thành công đó có vai trò quan trọng của dòng vốn tín dụng ngân hàng.
Giá vàngXem chi tiết

GIÁ VÀNG - XEM THEO NGÀY

Khu vực

Mua vào

Bán ra

HÀ NỘI

Vàng SJC 1L

66.500

67.320

TP.HỒ CHÍ MINH

Vàng SJC 1L

66.500

67.300

Vàng SJC 5c

66.500

67.320

Vàng nhẫn 9999

53.700

54.700

Vàng nữ trang 9999

53.500

54.300


Ngoại tệXem chi tiết
TỶ GIÁ - XEM THEO NGÀY 
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 23.250 23.620 24,639 26.018 27.488 28.660 172.43 182.55
BIDV 23.300 23.600 24,835 26.039 27,641 28.719 173.60 182.70
VietinBank 23.262 23.622 24,899 26.034 27,850 28.860 173.92 180.87
Agribank 23.280 23.595 25.147 26.225 28.899 29.682 174.11 180.63
Eximbank 23.300 23.580 25.044 25.697 28.953 29.708 172.21 176.70
ACB 23.250 23.700 25.119 26.701 29.135 29.691 172.39 176.56
Sacombank 23.268 23.653 25.081 25.996 29.089 29.855 172.56 180.11
Techcombank 23.280 23.630 25.080 25.730 28.970 29.730 171.40 177.00
LienVietPostBank 23.260 23.850 25.088 26.320 29.058 29.881 172.21 181.04
DongA Bank 23.320 23.630 26.930 27.410 31.560 32.110 203.80 210.30
(Cập nhật trong ngày)
Lãi SuấtXem chi tiết
(Cập nhật trong ngày)
Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,20
0,20
-
4,90
4,90
5,40
6,00
6,00
7,40
7,40
BIDV
0,10
-
-
-
4,90
4,90
5,40
6,00
6,10
7,40
7,40
VietinBank
0,10
0,20
0,20
0,20
4,90
4,90
5,40
6,00
6,00
7,40
7,40
Cake by VPBank
0,10
-
-
-
4,90
-
4,95
7,90
-
8,50
8,60
ACB
-
1,00
1,00
1,00
5,50
5,60
5,70
7,00
7,20
7,40
8,10
Sacombank
-
-
-
-
5,70
5,80
5,90
8,30
8,60
8,90
9,00
Techcombank
1,00
-
-
-
5,90
5,90
5,90
8,50
8,50
8,70
8,70
LienVietPostBank
-
0,10
0,10
0,10
6,00
6,00
6,00
8,10
8,10
8,50
8,50
DongA Bank
1,00
1,00
1,00
1,00
6,00
6,00
6,00
9,35
9,45
9,50
9,50
Agribank
0,50
-
-
-
4,90
4,90
5,40
6,10
6,10
7,40
7,40
Eximbank
0,20
1,00
1,00
1,00
5,60
5,70
5,80
6,80
7,10
7,40
7,50

Liên kết website
Bình chọn trực tuyến
Nội dung website có hữu ích với bạn không?