Thứ Ba, ngày 26 tháng 01 năm 2021

Đánh giá an toàn Ngân hàng trung ương - Tạo tiền đề hướng tới phương pháp kiểm toán hiện đại

Ngày đăng:09:00 05/03/2020
Lượt xem: 782
Cỡ chữ
Mục tiêu hoạt động của Ngân hàng Nhà nước (NHNN) nhằm ổn định giá trị đồng tiền, bảo đảm an toàn hoạt động ngân hàng và hệ thống các tổ chức tín dụng (TCTD); bảo đảm sự an toàn, hiệu quả của hệ thống thanh toán quốc gia, góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội của đất nước.
 

 
Theo IMF, khung đánh giá an toàn được tiến hành trên năm lĩnh vực chính trong cơ cấu quản trị của NHTW: (i) cơ chế kiểm toán bên ngoài; (ii) cơ cấu pháp lý và tính độc lập; (iii) khung báo cáo tài chính; (iv) cơ chế kiểm toán nội bộ; và (v) hệ thống kiểm soát nội bộ. Năm lĩnh vực này được thể hiện bằng chữ viết tắt ELRIC. 
 
Đảm nhiệm vai trò quan trọng đối với một nền kinh tế, hoạt động của Ngân hàng Nhà nước hay còn gọi là Ngân hàng Trung ương (NHTW) luôn chứa đựng những rủi ro, có những rủi ro từ bên ngoài, nhưng cũng có những rủi ro ngay trong nội bộ ngân hàng mà chúng ta chưa thể lường hết. Tất cả những rủi ro đó đều trực tiếp hoặc gián tiếp ảnh hưởng đến nền kinh tế. Do vậy, cần thiết phải xem xét để đánh giá an toàn hoạt động một cách có hệ thống, dựa trên những chuẩn mực cụ thể. Trong quá trình nghiên cứu, học hỏi kinh nghiệm, chúng tôi xin giới thiệu bài viết về các phương pháp đánh giá an toàn NHTW theo kinh nghiệm của Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF).
 
Để đánh giá an toàn hoạt động của NHTW, trước hết, phải đưa ra được khung pháp lý cơ bản, tạo cơ sở cho việc thiết lập, triển khai thực hiện và giám sát sau này; giúp nâng cao được nhận thức về nhu cầu minh bạch và trách nhiệm trong hoạt động của NHTW. Khung pháp lý của NHTW là rất quan trọng đối với việc vận hành có hiệu quả hoạt động của cả hệ thống ngân hàng.  
 
Kiểm toán bên ngoài (E = External audit mechanism). Trong lĩnh vực thuộc cơ chế kiểm toán bên ngoài, các NHTW phải được kiểm toán bởi một tổ chức kiểm toán độc lập bên ngoài, hội đủ các chuẩn mực kiểm toán được quốc tế công nhận. Cụ thể, Cơ quan Kiểm toán Tối cao (SAIs) sẽ tiến hành kiểm toán báo cáo tài chính của NHTW hoặc kiểm toán đối với chính sách dự báo một cách toàn diện, kịp thời và với chất lượng cao đối với các NHTW. Để đạt được mục tiêu này, việc quan trọng là các tổ chức kiểm toán phải có nhân viên có đủ kỹ năng phù hợp, phương pháp luận đã được chứng minh cũng như cơ chế đảm bảo chất lượng được công nhận. Điều quan trọng nhất là các kiểm toán viên phải đưa ra được ý kiến ​​về báo cáo tài chính của NHTW. Ý kiến ​​này phải được công bố kèm theo báo cáo tài chính trên cơ sở định kỳ. Các kiểm toán viên cần được thay phiên nhau thường xuyên để tránh (gặp) sự cố về tính độc lập hoặc tính khách quan của kiểm toán viên.
 
Khung pháp lý và quyền tự chủ (L = Legal structure and autonomy). Trên nhiều góc độ, khung pháp lý và quyền tự chủ của NHTW là cả hai lĩnh vực quan trọng nhất và khó khăn nhất khi đánh giá. Khung pháp lý mà NHTW vận hành sẽ củng cố từng lĩnh vực an toàn nói trên và có tác động trực tiếp đến khả năng đảm bảo nguồn lực cũng như việc giải ngân của NHTW. Để đánh giá lĩnh vực này, kinh nghiệm của IMF dựa trên kiến thức chuyên môn của bộ phận Pháp chế IMF nhằm rà soát những quy định pháp luật hiện hành đối với từng NHTW. Các chuyên gia pháp lý kiểm tra luật để tìm ra những điểm yếu trong các lĩnh vực chính có liên quan đến đảm bảo nguồn lực. Cụ thể, các lĩnh vực này bao gồm: (i) Đảm bảo một cơ cấu quản trị phù hợp cho NHTW (ví dụ, Ban Giám đốc, Ủy ban chính sách tiền tệ, Thống đốc, Phó Thống đốc); (ii) Ngăn chặn sự phá hoại quyền tự chủ của NHTW (ví dụ, thông qua việc xóa bỏ bất thường bộ phận quản lý cao cấp mà không có quy trình pháp luật cụ thể); (iii) Xác định trách nhiệm sở hữu và quản lý dự trữ ngoại hối của đất nước; (iv) Quy định chi tiết các hình thức quan hệ của NHTW với Chính phủ nhưng không giới hạn các điều khoản cấp tín dụng cho Chính phủ, chính sách phân phối lợi nhuận của ngân hàng và vai trò của NHTW với Chính phủ trong các quyết định chính sách; và (v) Cung cấp cơ chế kiểm toán và kế toán đáp ứng các chuẩn mực quốc tế. Các báo cáo an toàn kiểm tra NHTW và pháp luật liên quan nhằm đảm bảo rằng không có sự can thiệp của Chính phủ với các hoạt động của NHTW mà theo đó có thể làm giảm quyền tự chủ của NHTW và tăng nguy cơ rủi ro hiện hữu cho ngân hàng, đặc biệt nếu các cơ quan khác ngoài NHTW có trách nhiệm quản lý dự trữ. 
 
Khung báo cáo tài chính (R = Finacial reporting framework). Như đã đề cập ở trên, các kiểm toán viên được yêu cầu đưa ra ý kiến trong báo cáo tài chính của ngân hàng. Tuy nhiên, để thực hiện điều này, họ phải hiểu được khung báo cáo tài chính của NHTW. Do đó, chính sách đánh giá an toàn yêu cầu NHTW chuẩn bị báo cáo tài chính phù hợp với các chuẩn mực kế toán quốc tế, chẳng hạn như: tiêu chuẩn báo cáo tài chính quốc tế (IFRS), hoặc chuẩn mực kế toán của Hệ thống NHTW châu Âu (ESCB). Các báo cáo tài chính này phải được kiểm toán và công bố định kỳ. Chúng cũng phải chứa đựng những công bố phù hợp về nguyên tắc kế toán được áp dụng, bao gồm các chính sách định giá và công nhận, rủi ro mà NHTW phải đối mặt cũng như mối quan hệ của họ với Chính phủ.
 
Cơ chế kiểm toán nội bộ (I = Internal audit mechanism). Liên quan đến các đánh giá an toàn, mỗi NHTW đều có một cơ chế kiểm toán nội bộ hoạt động theo chức năng nhằm đảm bảo độc lập cho cán bộ điều hành cấp cao của NHTW. Sự đảm bảo này bao gồm cả việc kiểm soát quá trình lập cũng như tính xác thực của báo cáo tài chính. Viện Kiểm toán nội bộ (IIA) đã ban hành các hướng dẫn kiểm toán nội bộ, phục vụ như một chuẩn mực để đánh giá chức năng kiểm toán nội bộ của NHTW.
 
Hệ thống kiểm soát nội bộ (S = System of Internal Controls). Mặc dù không có định nghĩa về tiêu chuẩn đánh giá kiểm soát nội bộ tại một NHTW, song các đánh giá an toàn có thể thẩm định toàn bộ hệ thống kiểm soát nội bộ nhằm đảm bảo rằng việc kiểm soát đúng mức đang diễn ra ở các khâu chính có liên quan đến nguồn lực, ví dụ như quản lý dự trữ và báo cáo số liệu. Đặc biệt, mỗi NHTW nên có một cơ cấu kiểm soát chung nhằm hỗ trợ việc kiểm soát đúng mức ở ba cấp độ của tổ chức, đó là: Kiểm soát hoạt động, quản lý và quản trị. Trong lĩnh vực quản lý dự trữ, các đánh giá an toàn đều tìm cách đảm bảo rằng có sự phân công trách nhiệm phù hợp trong quy trình quản lý dự trữ giữa việc khởi xướng, minh họa và thanh toán thỏa thuận. Các hướng dẫn quản lý dự trữ cũng rất quan trọng nhằm đảm bảo rằng rủi ro liên quan đến quản lý ngoại hối của một quốc gia đều được nắm bắt và các bên liên quan được tổ chức trong giới hạn của Ban Giám đốc NHTW. Các đánh giá an toàn muốn đảm bảo rằng dữ liệu kế toán của NHTW (được kiểm toán bởi một bên thứ ba độc lập) có thể được điều chỉnh với dữ liệu báo cáo vì mục đích chương trình. Việc điều chỉnh hai bộ dữ liệu nói trên sẽ giúp tăng cường giảm nhẹ rủi ro làm báo cáo sai.
 
Thực tiễn đánh giá an toàn tại Ngân hàng Nhà nước Việt Nam 
 
Cho đến nay, chưa có một báo cáo nào thể hiện sự đánh giá an toàn của NHNN dựa trên các tiêu chí trên. Tuy nhiên, chúng ta cũng có thể thấy rằng hoạt động của NHNN được quy định rất chặt chẽ, dựa vào khung đánh giá (ELRIC), chúng ta có thể khái quát hình dung như sau:
 
Về cơ chế kiểm toán bên ngoài (E): Luật Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (Luật NHNN) đã được Quốc hội thiết lập một điều khoản, trong đó, quy định “Báo cáo tài chính hằng năm của NHNN được Kiểm toán Nhà nước kiểm toán và xác nhận” - Điều 47, Luật NHNN số 46/2010/QH12. Ngoài ra, NHNN còn chịu sự kiểm tra, thanh tra của các đơn vị liên quan như Bộ Tài chính thực hiện kiểm tra về quản lý dự trữ ngoại hối nhà nước; Thanh tra Chính phủ thực hiện thanh tra hoạt động của NHNN; Bộ Nội vụ thực hiện kiểm tra chuyên ngành về công tác tổ chức, bộ máy,… Chúng ta có thể thấy rằng, Kiểm toán Nhà nước là cơ quan do Quốc hội thành lập để thực hiện kiểm toán việc quản lý, sử dụng tài chính, tài sản công (Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (sửa đổi) được thông qua tại kỳ họp thứ 6, Quốc hội khóa XIII ngày 28/11/2013 đã hiến định địa vị pháp lý của Kiểm toán Nhà nước), trong đó có nhiệm vụ kiểm toán báo cáo tài chính của NHNN. Điều này đã thể hiện được tính độc lập từ cơ quan kiểm toán bên ngoài như thông lệ của các nước. Tuy nhiên, vấn đề đặt ra theo kinh nghiệm của IMF thì khả năng hội đủ các điều kiện, tiêu chuẩn (chứng chỉ đạt trình độ chuẩn mực quốc tế) để có thể đảm nhận được trọng trách này.
 
Về khung pháp lý và quyền tự chủ của NHNN (L): Cũng theo Luật NHNN, “Ngân hàng Nhà nước Việt Nam là cơ quan ngang Bộ của Chính phủ, là Ngân hàng Trung ương của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam” - Khoản 1, Điều 2, Luật NHNN số 46/2010/QH12. Mô hình này phụ thuộc vào thiết chế của Nhà nước, do vậy, NHNN được giao trọng trách thực hiện chức năng quản lý nhà nước về tiền tệ, hoạt động ngân hàng và ngoại hối; đồng thời NHNN thực hiện chức năng NHTW về phát hành tiền, ngân hàng của các TCTD và cung ứng dịch vụ tiền tệ cho Chính phủ. Luật đã quy định rõ ràng địa vị pháp lý của NHNN là cơ quan ngang Bộ của Chính phủ, đồng thời xác định nhiệm vụ và quyền hạn cụ thể trong điều hành chính hành chính sách tiền tệ và hoạt động ngân hàng. Tuy nhiên, vấn đề độc lập trong điều hành chính sách tiền tệ giống như mô hình NHTW của các nước đang phụ thuộc vào rất nhiều yếu tố đối với NHNN Việt Nam trong giai đoạn hiện nay.
 
Để thực hiện chức năng này, Quốc hội đã ban hành một hệ thống pháp luật chuyên ngành đầy đủ, đồng bộ, để tạo hành lang pháp lý cho NHNN thực hiện nhiệm vụ được giao. Bên cạnh đó, hoạt động NHNN còn chịu sự chi phối, điều chỉnh của rất nhiều các quy định của pháp luật chung, pháp luật chuyên ngành khác có liên quan. Thực tế cho thấy, mỗi khi ban hành một chính sách được thiết lập trong khuôn khổ và biểu hiện dưới dạng văn bản quy phạm pháp luật (nghị định của Chính phủ, quyết định của Thủ tướng Chính phủ hay thông tư của Thống đốc NHNN) đều phải được xây dựng thống nhất dựa theo một nguyên tắc, thẩm quyền, hình thức và thủ tục rất chặt chẽ được quy định trong luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật và các văn bản hướng dẫn liên quan. Để đảm nhận vai trò này, NHNN có bộ phận chuyên trách - Vụ Pháp chế chuyên thẩm định lại các văn bản quy phạm pháp luật có liên quan đến thẩm quyền ban hành của Thống đốc NHNN. Việc thẩm định nhằm mục đích rà soát lại toàn bộ các thiết chế, đảm bảo những quy định của NHNN không bị trái/chồng chéo với các quy định có tính pháp lý cao hơn, đảm bảo tính khả thi trong thực tiễn và quan trọng hơn cả, đó là thông qua thẩm định, đảm bảo rằng các quy định của NHNN được thiết lập chặt chẽ, dễ đi vào đời sống thực tiễn và là phương tiện để quản lý nhà nước bằng pháp luật trong lĩnh vực ngân hàng.
 
Về khung báo cáo tài chính (R): Theo quy định hiện hành thì NHNN thực hiện hạch toán kế toán theo các chuẩn mực kế toán của Việt Nam và theo chế độ kế toán đặc thù của NHTW được Thủ tướng Chính phủ quy định. Vấn đề đặt ra là kiểm toán viên đánh giá báo cáo tài chính của NHNN đòi hỏi, ngoài yêu cầu theo khung báo cáo tài chính chung, còn phải hiểu rõ bản chất các hoạt động đặc thù của NHTW được thiết kế trong báo cáo tài chính riêng. Theo các quy định hiện hành về chế độ kế toán áp dụng đối với NHNN thì điểm khác biệt đặc thù, đó chính là Hệ thống tài khoản kế toán của NHNN. Hệ thống này bao gồm các tài khoản kế toán cần sử dụng để phản ánh các nghiệp vụ kinh tế, tài chính phát sinh trong hoạt động của NHNN, trong đó gồm có các nhóm tài khoản và tài khoản sau đây: (1) Tái cấp vốn, dự trữ bắt buộc, nghiệp vụ thị trường mở và các công cụ khác theo quy định của Chính phủ để thực hiện Chính sách tiền tệ quốc gia; (2) Phát hành tiền và nợ phải trả; (3) Cho vay, bảo lãnh, tạm ứng cho ngân sách nhà nước; (4) Hoạt động thanh toán và ngân quỹ; (5) Quản lý ngoại hối và hoạt động ngoại hối; (6) Tài sản cố định và các tài sản có khác; (7) Vốn, quỹ và kết quả hoạt động của NHNN; (8) Thu nhập, chi phí của NHNN; (9) Tài sản khác có liên quan đến NHNN. Trong 9 nhóm trên, thì nhóm 1 đến nhóm 5 là những tài khoản kế toán đặc thù và chỉ riêng NHNN mới có. Do vậy, đảm nhận nhiệm vụ đánh giá về báo cáo tài chính của NHNN là một thử thách đối với kiểm toán viên bên ngoài.
 
Về cơ chế kiểm toán nội bộ (I): Khác với các Bộ, ngành khác, NHNN là cơ quan duy nhất của Chính phủ có tổ chức bộ máy kiểm toán nội bộ. Cơ chế này đã được quy định rõ ràng trong Luật NHNN và trên cơ sở đó, Chính phủ, Thống đốc NHNN cũng đã quy định cụ thể hơn về cơ cấu tổ chức bộ máy, chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của kiểm toán nội bộ. Theo đó, đối tượng của kiểm toán nội bộ là các đơn vị thuộc hệ thống NHNN. Mục tiêu của Kiểm toán nội bộ là đánh giá về hiệu quả hoạt động kiểm soát nội bộ nhằm bảo đảm độ tin cậy của báo cáo tài chính, hiệu lực của các hoạt động, tuân thủ pháp luật, quy định, quy trình của NHNN, bảo đảm an toàn tài sản. Song song với việc thiết lập bộ máy tổ chức, điều quan trọng là NHNN đã hoàn thiện tương đối đầy đủ các văn bản hướng dẫn, quy định, quy trình nghiệp vụ kiểm toán nội bộ. Đến nay, đã có các quy định chung về trình tự, thủ tục, quy trình tiến hành một cuộc kiểm toán. Đặc biệt, việc xây dựng đầy đủ các văn bản hướng dẫn kiểm toán theo chuyên đề, các hướng dẫn này rất hữu ích như là sổ tay nghiệp vụ để kiểm toán nội bộ dễ dàng, thuận tiện trong việc thao tác nghiệp vụ chuyên môn. Một yếu tố quan trọng là nhân sự kiểm toán nội bộ đã và đang từng bước được nâng cao về chất lượng và hiệu quả. Đến nay, bộ máy kiểm toán nội bộ của NHNN có gần 40 vị trí, với tổng số 50 người, trình độ chuyên môn phù hợp với yêu cầu (tài chính, kế toán, kiểm toán, ngân hàng, luật, công nghệ thông tin, xây dựng). Những kiểm toán viên này được đào tạo bài bản từ chuyên môn nghiệp vụ đến tích lũy kiến thức, kỹ năng làm việc cũng như kiến thức bổ trợ khác. Tuy nhiên, từ trước đến nay, hoạt động kiểm toán nội bộ vẫn đang thực hiện theo những phương pháp truyền thống, kiểm toán định kỳ, tập trung vào quá khứ, mang nặng tính tuân thủ, chấp hành. Trong tương lai gần, để phù hợp với thông lệ quốc tế nói chung và NHTW các nước trong khu vực nói riêng, NHNN cần nghiên cứu và thiết lập mô hình quản trị rủi ro để tạo tiền đề cho kiểm toán nội bộ tiếp cận và thực hiện sứ mệnh đổi mới phương pháp kiểm toán trên cơ sở rủi ro.
 
Về hệ thống kiểm soát nội bộ (C): Hệ thống kiểm soát nội bộ NHNN là tổng thể các cơ chế, chính sách, quy trình, quy định nội bộ, cơ cấu tổ chức của đơn vị thuộc NHNN được thiết lập phù hợp với các quy định của pháp luật và được tổ chức thực hiện nhằm đảm bảo các nguồn lực được quản lý và sử dụng đúng pháp luật, đúng mục đích, tiết kiệm, hiệu quả; ngăn ngừa rủi ro, phát hiện, xử lý kịp thời các hành vi gian lận, sai sót; cung cấp thông tin trung thực, phục vụ kịp thời cho việc ra các quyết định quản lý; đảm bảo thực hiện được các mục tiêu đã đề ra. Chúng ta có thể thấy NHNN đã thiết lập một hệ thống kiểm soát nội bộ rất hoàn chỉnh và hiệu quả cao cho hoạt động của mình. Điều đó được thể hiện qua hệ thống các văn bản quy phạm pháp luật, các quy trình nghiệp vụ, các hướng dẫn chuyên môn được thiết lập đầy đủ cho mọi quy trình hoạt động ngân hàng. Trong từng nghiệp vụ chuyên môn, trong từng quy trình, thủ tục, đã lồng ghép một cách khoa học, tạo nên các chốt kiểm soát ngay từ khi tác nghiệp, đồng thời thiết kế cơ chế kiểm soát trước đối với từng nghiệp vụ và thiết lập cơ chế kiểm soát sau để kiểm toán nội bộ thực hiện vai trò kiểm toán một cách độc lập của mình. Bên cạnh đó, NHNN cũng là cơ quan duy nhất có hệ thống ngành dọc từ Trung ương đến 63 tỉnh, thành phố trong cả nước. Hoạt động của hệ thống NHNN trực thuộc sự quản lý và điều hành tập trung, thống nhất từ NHTW. Điều đó cho thấy, hệ thống kiểm soát nội bộ của NHNN được thiết kế theo đặc thù của NHNN.
 
Một số gợi ý với NHNN Việt Nam 
 
Việc tiến hành đánh giá an toàn cho đến nay, chưa có một quy định bắt buộc, do vậy, để bảo đảm an toàn, giảm nguy cơ tiềm ẩn rủi ro cho hoạt động ngân hàng, cần được tiến hành đánh giá theo khung (ELRIC). Các đánh giá an toàn kiến nghị những biện pháp quản trị nhằm giảm thiểu những điểm yếu đã được xác định trong khung pháp lý. Trước mắt, gợi ý thực hiện theo các nội dung sau:
 
Thứ nhất, tăng dần tính độc lập, chủ động và trách nhiệm giải trình của NHNN về thực hiện mục tiêu điều hành chính sách tiền tệ, kiểm soát lạm phát ở mức độ phù hợp với định hướng phát triển kinh tế - xã hội trong từng thời kỳ, hỗ trợ ổn định kinh tế vĩ mô, thúc đẩy mục tiêu tăng trưởng kinh tế bền vững.
 
Thứ hai, yêu cầu tiến hành kiểm toán độc lập bên ngoài đối với NHTW, áp dụng các chuẩn mực kế toán quốc tế.
 
Thứ ba, nâng cao năng lực của kiểm toán nội bộ để thực hiện kiểm toán trên cơ sở rủi ro các hoạt động của NHNN. Kiểm toán nội bộ phát hiện và phòng ngừa rủi ro, đảm bảo ngân hàng hoạt động an toàn hiệu quả cũng chính là góp phần đảm bảo an toàn, hiệu quả cho nền kinh tế nói chung. Ngày nay, hoạt động kiểm toán nội bộ nói chung và kiểm toán tuân thủ, kiểm toán hoạt động đang trở nên cần thiết và có vị trí quan trọng trong nội dung kiểm toán. Nó không chỉ liên quan đến lĩnh vực tài chính, mà còn liên quan đến lĩnh vực phi tài chính, đến tất cả các chức năng của NHNN và mối liên hệ qua lại giữa các chức năng đó.
 
Kết luận
 
Nhằm hướng tới một hoạt động minh bạch, phù hợp với thông lệ quốc tế, bảo vệ các nguồn lực của NHTW, cần thiết phải đánh giá an toàn hoạt động của NHNN dựa trên khung đánh giá (ELRIC). Cho đến nay, những hạn chế chủ yếu được xác định trong các báo cáo an toàn bao gồm: Thiếu kiểm toán bên ngoài phù hợp; kiểm toán nội bộ chưa đủ mạnh để kiểm toán dựa trên cơ sở rủi ro các hoạt động; mô hình kiểm soát nội bộ còn thiếu đồng nhất ở các đơn vị và không có báo cáo tài chính được công bố. Những hạn chế này đang trong quá trình giải quyết thông qua việc thực hiện khuyến nghị của IMF theo sáng kiến ​​an toàn. Việc đánh giá an toàn là điều cần thiết vì nó cung cấp cơ sở pháp lý cho tất cả các lĩnh vực khác trong hệ thống kiểm soát của NHNN và cũng đặt ra cơ cấu quản trị NHNN một cách tổng thể, trong đó, cần xem xét đến một bộ phận chuyên trách của NHNN đảm nhận vai trò đánh giá độc lập các hoạt động của NHNN dựa trên khung các tiêu chí (ELRIC). Có như vậy sẽ tạo tiền đề để kiểm toán nội bộ thực hiện trọng trách theo kịp nghiệp vụ chuyên môn của kiểm toán các nước trong khu vực là kiểm toán trên cơ sở rủi ro phù hợp với thông lệ quốc tế.
 
Tài liệu tham khảo:
Hiến pháp Nước Cộng hòa XHCN Việt Nam (2013);
Luật NHNN Việt Nam (2010);
Luật Kiểm toán Nhà nước (2015);
Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật (2015);
Tài liệu khóa học đánh giá an toàn NHTW do IMF tổ chức tại Singapore tháng 10/2018;
Các văn bản quy phạm pháp luật liên quan của Thủ tướng Chính phủ, của Thống đốc NHNN.

ThS. Nguyễn Trọng Chung
ThS. Trần Phú Dũng


Nguồn: TCNH số 8/2019
Bình luận Ý kiến của bạn sẽ được biên tập trước khi đăng. Xin vui lòng gõ tiếng Việt có dấu
Tâm lý nhà đầu tư trên thị trường tài chính Việt Nam

Thị trường tiền tệ

Trên thị trường, tâm lý các nhà đầu tư luôn chi phối rất lớn đến mức độ ổn định của thị trường, đặc biệt là đối với thị trường tài chính, sự tác động của yếu tố tâm lý luôn diễn biến rất phức tạp, khiến thị trường tài chính luôn tiềm ẩn yếu tố bất ổn định rất cao