Thứ Hai, ngày 16 tháng 09 năm 2019

Chuyển đổi hoạt động kiểm toán nội bộ: sự cần thiết và giải pháp định hướng đối với các ngân hàng thương mại Việt Nam

Ngày đăng:10:51 08/08/2019
Lượt xem: 296
Cỡ chữ
Hệ thống các tổ chức tín dụng Việt Nam bao gồm các ngân hàng thương mại, các tổ chức tín dụng phi ngân hàng, ngân hàng hợp tác xã, tổ chức tài chính vi mô và quỹ tín dụng nhân dân(1). Các ngân hàng thương mại được cấp phép thực hiện cung cấp các sản phẩm và dịch vụ ngân hàng và vì mục đích lợi nhuận. Hoạt động kiểm toán nội bộ của ngân hàng (sau đây gọi tắt là kiểm toán nội bộ) được thành lập và trực tiếp báo cáo Ban Kiểm soát, là cơ quan kiểm soát do Đại hội đồng cổ đông của ngân hàng bầu ra. Với quy định tổ chức hoạt động như vậy, kiểm toán nội bộ được kỳ vọng duy trì tính độc lập về mặt tổ chức do trực tiếp báo cáo Ban Kiểm soát, Hội đồng quản trị và đảm bảo sự khách quan trong các hoạt động của mình.
Các ngân hàng thương mại trong nước dưới sức ép tái cơ cấu. 
 
Cuộc khủng hoảng tài chính từ năm 2008 đã làm nảy sinh nhiều tồn tại và thách thức cho nền kinh tế Vệt Nam nói chung và hệ thống ngân hàng nói riêng. Theo các báo cáo của VCBS(2), vào cuối năm 2010, hệ thống ngân hàng Việt Nam có gần 100 ngân hàng và chi nhánh ngân hàng nước ngoài, bao gồm 5 ngân hàng thương mại nhà nước, 37 ngân hàng thương mại cổ phần, 53 ngân hàng và chi nhánh ngân hàng 100% vốn nước ngoài và 5 ngân hàng liên doanh. Trong giai đoạn từ 2008 đến 2011, hệ thống ngân hàng đối mặt với tình trạng bất ổn, bao gồm: (i) tình trạng lãi suất thị trường cao, có thời điểm lên tới 25 - 35% năm; (ii) thực trạng và cấu trúc các khoản nợ xấu cao trực tiếp tác động đến khả năng hoạt động bền vững của nhiều ngân hàng; (iii) khó khăn thanh khoản và một số ngân hàng đứng trước nguy cơ phá sản. Thực trạng này gửi đi thông điệp ngành Ngân hàng đang đứng trước rủi ro dễ bị tổn thương hệ thống và buộc các nhà làm chính sách và cơ quan quản lý đưa ra gói hỗ trợ lãi suất và Chương trình tái cơ cấu hệ thống ngân hàng giai đoạn 2011 - 2015(3) và sau đó là Chương trình tái cơ cấu hệ thống ngân hàng lần thứ hai, giai đoạn 2016 - 2020(4). Vào cuối năm 2015, sau một số thương vụ sáp nhập và mua lại bắt buộc của Ngân hàng Nhà nước, số lượng ngân hàng thương mại trong nước giảm xuống con số 33(2). Các tổ chức tín dụng thuộc đối tượng buộc bị sáp nhập và mua lại bắt buộc với giá không đồng, thường đối mặt với thanh khoản cạn kiệt hoặc đối mặt với nguy cơ phá sản với vốn chủ sở hữu âm tại thời điểm đánh giá. Theo Vietnambiz(5), Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam Lê Minh Hưng đã chỉ ra năm nguyên nhân chủ quan gây nên tình trạng nợ xấu cao và vấn đề của hệ thống ngân hàng, bao gồm: (i) sự yếu kém và quy trình thủ tục tín dụng không hiệu quả, tạo cơ hội cho nhân viên ngân hàng và khách hàng xấu lợi dụng để trục lợi cá nhân. Hệ thống kiểm soát nội bộ yếu kém và đạo đức nghề nghiệp không được coi trọng; (ii) một số lượng cán bộ ngân hàng vi phạm nguyên tắc đạo đức, cấu kết với đối tượng lừa đảo và khách hàng xấu nhằm vượt qua các chốt kiểm soát; (iii) chương trình tái cấu trúc trong năm năm qua đã đạt được nhiều kết quả bước đầu nhưng chưa thể giải quyết hết các yếu kém căn bản của hệ thống ngân hàng và tình trạng nợ xấu cao; (iv) nguồn lực tài chính còn hạn chế của các tổ chức tín dụng, đặc biệt là các ngân hàng thuộc sở hữu nhà nước; và (v) sự bất cập trong công tác thanh tra của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam chưa đáp ứng được sự phát triển của các tổ chức tín dụng trong giai đoạn mới, cùng với năng lực của cán bộ thanh tra còn hạn chế và một vài trường hợp còn cố tình vi phạm pháp luật.
 

 
Các hạn chế của kiểm toán nội bộ và thách thức 
 
Cùng với Đề án tái cơ cấu các tổ chức tín dụng, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam đã từng bước xây dựng cơ sở pháp lý nền tảng cho hệ thống kiểm soát nội bộ và đặt kiểm toán nội bộ trong vai trò lớp phòng thủ thứ ba, cùng với lớp phòng thủ thứ nhất và thứ hai tương ứng với việc vận hành và giám sát hệ thống kiểm soát nội bộ, đã được quy định trong Thông tư 44(6) và  Thông tư 13(7) (thay thế cho Thông tư 44 từ ngày 01/01/2019 tới đây). 
 
Kiểm toán nội bộ đã được thể chế và cung cấp hành lang pháp lý phù hợp để vận hành hiệu quả. Tuy nhiên, trên thực tế, kiểm toán nội bộ đang có nhiều hạn chế và đối diện với không ít thách thức tác động đến hiệu quả hoạt động của nó. Từ quan điểm thực tế chỉ đạo và vận hành công tác kiểm soát và kiểm toán nội bộ trong ngân hàng thương mại, tác giả tổng kết và phân tích các hạn chế của kiểm toán nội bộ của các ngân hàng trong nước theo các góc độ sau:
 
Thứ nhất, về vị thế. Kiểm toán nội bộ và kiểm soát nội bộ là hai thuật ngữ thường hay bị hiểu và sử dụng lẫn lộn với nhau. Một số lượng lớn nhân viên, thậm chí nhiều cán bộ quản lý cũng chưa hiểu đúng vai trò của kiểm toán nội bộ. Trong một khoảng thời gian dài, kiểm toán nội bộ vẫn được coi là “phải có” theo luật, nhưng chưa mang lại nhiều đóng góp cho tổ chức do việc kiểm toán nội bộ còn chủ yếu tập trung vào kiểm tra phát hiện các sai sót và việc tuân thủ trong việc thực hiện quy định, quy trình giao dịch, tín dụng. Việc kiểm tra thường thực hiện sau khi sai sót, sai phạm đã xảy ra. Một thực tế đáng lo ngại là nhiều phát hiện và kiến nghị của kiểm toán nội bộ còn ít được các cán bộ quản lý điều hành quan tâm và họ chưa thực sự chú trọng đến các biện pháp chỉnh sửa do các lỗi tuân thủ đã xảy ra trong quá khứ. Với việc khung pháp lý về hoạt động kiểm soát nội bộ và kiểm toán nội bộ theo Thông tư 13 được hoàn thiện theo hướng chuẩn mực, kiểm toán nội bộ đòi hỏi phải tăng cường vai trò chủ động trong công tác quản trị rủi ro và tập trung vào cung cấp các dịch vụ đảm bảo. Kiểm toán nội bộ sẽ trở thành cánh tay đắc lực cho Hội đồng Quản trị, Ban Kiểm soát, Tổng Giám đốc trong việc giám sát các hoạt động của hệ thống kiểm soát nội bộ và việc tuân thủ các quy định pháp luật. Do vậy, vị thế của kiểm toán nội bộ phụ thuộc vào cách thức chuyển đổi của nó hướng tới vai trò cung cấp các dịch vụ đảm bảo và tư vấn, và mức độ tham gia của kiểm toán nội bộ vào quá trình quản trị rủi ro của tổ chức. 
 
Thứ hai, cấu trúc tổ chức. Phụ thuộc vào từng ngân hàng mà cấu trúc của kiểm toán nội bộ có thể khác nhau. Cấu trúc thường thấy là phòng hoặc trung tâm. Các kiểm toán viên nội bộ được chia tách theo khu vực địa lý hoặc theo các khối kinh doanh hoặc các nhóm chức năng. Cấu trúc cũng có thể tập trung tại Hội sở chính hay phân tán tại các chi nhánh hay khu vực. Cấu trúc này có khuynh hướng hình thành các nhóm chuyên trách gắn với các hoạt động của ngân hàng như: hoạt động ngân hàng bán lẻ, khách hàng doanh nghiệp, hay các chức năng hỗ trợ. Câu hỏi đúng đặt ra ở đây là, liệu cấu trúc của kiểm toán nội bộ có ăn khớp với chiến lược ngân hàng và vận hành giúp ngân hàng đạt được mục tiêu theo cách thức hiệu quả và hiệu lực nhất không. Do các cuộc kiểm toán là trung tâm trong việc hoàn thành kế hoạch kiểm toán năm, việc tạo quá nhiều cấp kiểm soát giữa nhóm kiểm toán và Trưởng kiểm toán hoặc Ban Kiểm soát là không cần thiết vì sẽ làm chậm lại quá trình luân chuyển thông tin. Cấu trúc tổ chức “mỏng”, “ma trận”, có thể được ưu tiên lựa chọn hơn. Quan điểm này được ủng hộ nếu chiếu theo quy định của Thông tư 13, đó là Ban Kiểm soát chịu trách nhiệm phê duyệt các báo cáo kiểm toán trước khi gửi cho Hội đồng Quản trị và Ban điều hành. Hơn nữa, Thông tư 13 còn cụ thể hóa các loại rủi ro ngân hàng phải quản lý và hệ thống kiểm soát để kiểm soát các rủi ro đó. Trên thực tế, mỗi loại rủi ro có thể xuất hiện tại nhiều đối tượng và một kiểm soát có thể giúp kiểm soát nhiều loại rủi ro khác nhau. Kết quả hình thành nên ma trận rủi ro và kiểm soát. Điều này đem đến thách thức không nhỏ trong việc trả lời câu hỏi: các rủi ro được kiểm soát tốt như thế nào? thay vì câu hỏi: liệu chốt kiểm soát đó có vận hành tốt hay không? Do vậy, kiểm toán nội bộ cần đặt mình vào vị thế trả lời câu hỏi: làm thế nào cấu trúc lại kiểm toán nội bộ để phù hợp nhất với các chuyển đổi trong khung quản trị rủi ro theo yêu cầu của Ngân hàng Nhà nước và đưa ra ý kiến đảm bảo về thiết kế và vận hành của hệ thống kiểm soát nội bộ.
 
Thứ ba, phương pháp tiếp cận kiểm toán. Với thực tế lâu nay, kiểm toán nội bộ chủ yếu tập trung vào kiểm tra và phát hiện các vấn đề tuân thủ và vi phạm quy định, pháp luật. Kiểm toán nội bộ được xem như “cảnh sát” khi tập trung vào xác định sai phạm đã xảy ra và ai là người chịu trách nhiệm. Phương pháp tiếp cận kiểm toán, do vậy, có thể xem là phương pháp tiếp cận trên cơ sở tuân thủ. Trong khi các ngân hàng nước ngoài và chi nhánh ngân hàng nước ngoài đã quen thuộc với phương pháp tiếp cận kiểm toán trên cơ sở rủi ro, thì phương pháp tiếp cận này chưa phổ biến với các ngân hàng trong nước do một số hạn chế về vị thế của kiểm toán nội bộ, năng lực của đội ngũ kiểm toán viên và khung quản trị rủi ro được các ngân hàng thực hiện mới đang ở giai đoạn bước đầu. Trước đây, phương pháp kiểm toán thông thường bao gồm hai phần chính: (i) kế hoạch kiểm toán năm do Ban Kiểm soát phê duyệt và gửi báo cáo Ngân hàng Nhà nước trước khi bắt đầu mỗi năm tài chính. Đối tượng kiểm toán bao gồm danh sách các chi nhánh, sản phẩm hoặc chức năng, hoặc các đơn vị trong ba năm trước đó chưa được kiểm toán. Phụ thuộc vào nguồn lực của kiểm toán, các cuộc kiểm toán bắt buộc thường chiếm tới hai phần ba tổng số các cuộc kiểm toán theo kế hoạch. Rủi ro tín dụng được đặc biệt chú ý, các rủi ro khác (thị trường, thanh khoản, hoạt động) chưa thực sự được trú trọng; (ii) các cuộc kiểm toán cụ thể thường được lên kế hoạch trước khi đoàn kiểm toán đi thực địa khoảng một vài tuần, trưởng đoàn kiểm toán thường được luân chuyển trong số các thành viên chuyên trách. Mẫu chọn kiểm toán phụ thuộc vào số lượng thành viên của đoàn và quy mô đối tượng cần kiểm toán. Do hoạt động tín dụng đang là rủi ro chính và có trọng số lớn trong thu nhập của các ngân hàng, mẫu chọn kiểm toán cũng tập trung nhiều vào các hồ sơ tín dụng rủi ro. Kiểm toán viên kiểm tra tương ứng với quy trình tín dụng (khởi tạo khoản vay, thẩm định, phê duyệt, tạo hợp đồng, tài sản đảm bảo, giải ngân và giám sát) nhằm nhận diện các sai phạm hay hồ sơ chứng từ thiếu sót. Các báo cáo kiểm toán tổng hợp các phát hiện, chi tiết các vi phạm, mức độ, người chịu trách nhiệm và được gửi cho đối tượng được kiểm toán để rà soát, có ý kiến và thống nhất (nếu cần thiết). Sau đó, báo cáo được kiểm toán nội bộ phát hành gửi cho đối tượng kiểm toán để thực hiện các chỉnh sửa theo kiến nghị và các cấp quản lý liên quan. Báo cáo gửi cho ban lãnh đạo cấp cao thường thực hiện hàng quý hoặc theo yêu cầu; (iii) việc theo dõi chỉnh sửa sau kiểm toán thường được thực hiện bởi bộ phận kiểm toán nội bộ. Hạn chế của phương pháp kiểm toán này là nó sử dụng cách thức tiếp cận tuân thủ truyền thống và thiếu đi tính dự báo có thể mang lại nhiều giá trị hơn cho đối tượng được kiểm toán trong quản lý rủi ro và kiểm soát. Phương pháp tiếp cận kiểm toán trên cơ sở rủi ro và các thông lệ tốt nhất chưa được triển khai rộng tại các ngân hàng trong nước. Cùng với các yêu cầu mới của pháp luật về hệ thống kiểm soát nội bộ và khung quản trị rủi ro, Kiểm toán nội bộ đứng trước yêu cầu cấp thiết trong việc chuyển đổi phương pháp tiếp cận kiểm toán của mình theo hướng áp dụng các thực tiễn tốt nhất và các chuẩn mực quốc tế để đảm bảo thành công. 
 
Thứ tư, năng lực của kiểm toán viên và cơ chế lương thưởng.  Năng lực của kiểm toán viên đang là vấn đề mấu chốt mà các ngân hàng trong nước đang phải tính đến. Kiểm toán viên nội bộ của ngân hàng không bắt buộc phải được cấp phép hay chứng nhận của các tổ chức nghề nghiệp. Thông tư 13 yêu cầu người làm nghề kiểm toán nội bộ ngân hàng phải có tối thiểu bằng cử nhân về kinh tế, quản trị kinh doanh, luật, kiểm toán và kế toán, công nghệ thông tin với kiểm toán viên công nghệ và có ít nhất hai năm kinh nghiệm làm việc trong ngân hàng. Khái niệm về phương pháp tiếp cận kiểm toán trên cơ sở rủi ro còn chưa quen thuộc với nhiều kiểm toán viên và cán bộ quản lý ngân hàng. Không dễ dàng để có thể tìm kiếm được một chuyên gia có kinh nghiệm hoặc kiến thức chuyên sâu về các thông lệ tốt nhất hoặc các tiêu chuẩn kiểm toán quốc tế tại thị trường Việt Nam vào thời điểm hiện tại. Với cách định vị thường thấy, kiểm toán nội bộ được phân loại là bộ phận hỗ trợ (back office). Chính sách lương thưởng của kiểm toán nội bộ nhiều khi vẫn do Ban điều hành quyết định  và thường thấp hơn các bộ phận kinh doanh hoặc kiểm soát (front and middle offices). Thực tế này khiến cho kiểm toán nội bộ khó tuyển dụng được cán bộ giỏi. Mặc dù, Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật các tổ chức tín dụng (năm 2017) và Thông tư 13 (năm 2018) đã cho phép Ban Kiểm soát quyết định việc tuyển dụng kiểm toán viên và quyết định lương thưởng của kiểm toán nội bộ, cũng phải mất thời gian và nỗ lực của Ban Kiểm soát trong việc đưa các quy định pháp luật vào thực tiễn, do cần có sự thay đổi về quan điểm của các cấp lãnh đạo cấp cao và Ban điều hành. Do vậy, Ban Kiểm soát đóng một vai trò quan trọng trong thúc đẩy sự chuyển đổi của kiểm toán nội bộ.
 
Thứ năm, phân tích số liệu (data analytics). Theo PWC(8), kiểm toán nội bộ tiếp tục tìm kiếm cơ hội cung cấp các sáng kiến sâu hơn và đóng góp giá trị cho tổ chức trong bối cảnh sức ép ngày càng gia tăng từ các nhóm đối tượng liên quan, gia tăng các quy định giám sát, một môi trường kinh doanh đầy năng động. Với mục tiêu như vậy, 82% đơn vị kiểm toán nội bộ được khảo sát trong nghiên cứu về nghề nghiệp kiểm toán nội bộ của PwC’s 2017 đã gia tăng đầu tư và công tác khai thác và phân tích số liệu để hỗ trợ cho việc giám sát, nắm bắt các khuynh hướng chủ đạo và triển khai công tác kiểm toán liên tục. Tuy nhiên, nhiều đơn vị kiểm toán nội bộ cho biết bộ phận phân tích số liệu của họ chưa đáp ứng yêu cầu và cần có bước tiến mạnh mẽ hơn.
Phân tích số liệu trở nên ngày càng quan trọng trong môi trường kinh doanh ngày nay. Phân tích số liệu có thể dựa trên rủi ro hoặc trên cơ sở kết quả và kỳ vọng đem đến: (i) nhận diện các rủi ro phát sinh; (ii) hiểu biết hơn về các rủi ro hiện hữu; (iii) cung cấp phạm vi đảm bảo rộng hơn; (iv) phát hiện và đưa ra nhiều gợi ý, sáng kiến hỗ trợ ban lãnh đạo trong việc ra quyết định. Cấp độ trong phân tích số liệu áp dụng cho các ngân hàng phụ thuộc nhiều vào kỹ năng của nhân viên và độ chín của kiểm toán nội bộ. Trong bối cảnh các chức năng kiểm toán nội bộ của ngân hàng Việt Nam còn đang trong giai đoạn đầu phát triển, kỹ năng và phương pháp phân tích số liệu còn chưa hiện hữu ở quy mô lớn. Do vậy, đang là một thách thức lớn cho kiểm toán nội bộ phát triển năng lực này trong quá trình chuyển đổi của mình.
 
Thứ sáu, mức độ tự động hóa quy trình công việc. Trên thực tế, nguồn lực của kiểm toán nội bộ không bao giờ đủ để đảm bảo đưa ra ý kiến tuyệt đối về tất cả các hoạt động, thậm chí là đưa ra ý kiến đảm bảo hợp lý trong bối cảnh các ngân hàng đang cố gắng kiểm soát ngân sách hoạt động trong các giai đoạn khó khăn và cân nhắc về yếu tố “chi phí - lợi ích” mà kiểm toán nội bộ có thể đem lại. Theo một nghiên cứu của Học viện Kiểm toán nội bộ IIA(9), tỷ lệ bình quân của số kiểm toán viên nội bộ trên tổng số nhân viên tại 11 tổ chức tài chính lớn là 0.67%, với mức độ từ 0.35% tới 1.32%. Trên thực tế, chức năng kiểm toán nội bộ luôn tồn tại nhưng nó không thể mở rộng quy mô tương ứng với sự tăng trưởng của tổ chức do vấn đề quan ngại về ngân sách hoạt động. Do vậy, giải pháp tốt nhất để đạt được năng suất là gia tăng mức độ tự động hóa các quy trình và báo cáo kiểm toán. Các kiểm soát tự động trong quy trình kiểm toán cũng sẽ làm tăng trách nhiệm và mức độ tương tác giữa kiểm toán viên và các đối tượng liên quan. Ở Việt Nam, mặc dù nhiều ngân hàng trong nước đang tìm kiếm tự động hóa quy trình kiểm toán, hầu hết các công việc kiểm toán vẫn còn làm thủ công. Khi chức năng kiểm toán nội bộ đã trở nên chín muồi hơn cùng với việc áp dụng các thông lệ tốt nhất và các chuẩn mực quốc tế, các phần mềm kiểm toán chuẩn hóa hoặc tự phát triển có thể triển khai được dễ dàng hơn tại các ngân hàng trong nước.
 
Kiểm toán nội bộ trong quá trình chuyển đổi. 
 
Với việc các yêu cầu pháp lý về hệ thống kiểm soát nội bộ đang gần tới thời điểm hiệu lực và yêu cầu cao hơn về vai trò và sự tham gia của kiểm toán nội bộ trong quản trị rủi ro, các ngân hàng trong nước đang đối mặt với yêu cầu cấp thiết chuyển đổi hoạt động của kiểm toán nội bộ trở nên tin cậy và đáp ứng hơn theo hướng áp dụng các thông lệ tốt nhất và các chuẩn mực quốc tế. Theo báo cáo của MetricStream(10)  về thông lệ kiểm toán nội bộ tốt nhất đã nêu ra, “Trước đây, kiểm toán nội bộ  bị giới hạn trong việc đánh giá các kiểm soát hoạt động và tài chính, thì ngày nay, kiểm toán viên nội bộ được kỳ vọng nhiều hơn thế - bước ra khỏi khu vực an toàn và cung cấp sự đảm bảo về các rủi ro mới và phát sinh, trong khi bổ sung các góp ý trong quá trình ra các quyết định chiến lược. Các đối tượng liên quan, ngày càng trông đợi nhiều hơn vào kiểm toán nội bộ giúp họ thoát khỏi sự bấp bênh trong môi trường pháp lý thay đổi, sự vi phạm về công bố thông tin ở quy mô lớn, hệ sinh thái kinh doanh toàn cầu phức tạp, và sự phức tạp địa chính trị. Cách thức mà kiểm toán nội bộ đáp ứng các kỳ vọng này sẽ xác định sự thành công, sự gắn kết và giá trị của kiểm toán nội bộ trong các năm tiếp theo”.
 
Kết luận 
 
Đối với các ngân hàng trong nước, chuyển đổi có thể thực hiện theo dạng một dự án hay một sáng kiến. Vấn đề không phải là cách thức thực hiện sự thay đổi như thế nào, mà là việc áp dụng các thông lệ tốt nhất và các chuẩn mực quốc tế về hoạt động, kiểm toán nội bộ mới có thể đảm bảo thành công bền vững, bao gồm, nhưng không hạn chế các nội dung sau: (i) phương pháp tiếp cận kiểm toán trên cơ sở rủi ro là trọng tâm của các kế hoạch kiểm toán; (ii) gia tăng vai trò tư vấn và dự báo, đóng góp giá trị vào quản trị rủi ro và kiểm soát nhằm hỗ trợ quá trình ra quyết định của tổ chức; (iii) tăng cường năng lực của kiểm toán viên phù hợp với các thông lệ và chuẩn mực quốc tế; (iv) quản lý chặt chẽ sự kỳ vọng của các đối tượng có liên quan; và (v) sử dụng phân tích số liệu và tự động hóa ở phạm vi cao nhất có thể.
 
Tài liệu tham khảo:
1. Luật các tổ chức tín dụng số 47/2010/QH12, có hiệu lực từ 1/1/2011, được Quốc Hội thông qua ngày 16/6/2010  và Luật sử đổi Luật các Tổ chức tín dụng số 17/2017/QH17, có hiệu lực từ 15/1/2018 được Quốc hội thông qua  ngày 20/11/2017. 
2. Báo cáo ngành Ngân hàng Việt Nam của VCBS các năm 2011, 2016 và 2017, xem tại http://www.vcbs.com.vn/vn/
3. Đề án cơ cấu lại hệ thống các tổ chức tín dụng giai đoạn 2011 - 2015 (Thủ tướng Chính phủ phê duyệt theo Quyết định số 254/QD-TTg ngày 1/3/ 2012)
4. Đề án cơ cấu lại hệ thống các tổ chức tín dụng gắn với xử lý nợ xấu giai 2016 - 2020 (Thủ tướng Chính phủ phê duyệt theo Quyết định số 1058/QD-TTg ngày 19/7/2017)
5. Vietnambiz (2017), Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam Lê Minh Hưng chỉ ra 11 nguyên nhân dẫn đến nợ xấu, xem tại https://vietnambiz.vn/thong-doc-le-minh-hung-chi-ra-11-nguyen-nhan-dan-den-no-xau-23308.html
6. Thông tư số 44/2011/TT-NHNN ngày 29/12/2011 quy định về hệ thống kiểm soát nội bộ và kiểm toán nội bộ của tổ chức tín dụng và chi nhánh ngân hàng nước ngoài.
7. Thông tư số 13/2018/TT-NHNN ngày 18/5/2018 quy định về hệ thống kiểm soát nội bộ của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài. 
8. PWC: Transforming your internal audit through data analytics, xem tại https://www.pwc.com/us/en/services/risk-assurance/advanced-risk-compliance-analytics/internal-audit-analytics.html
9. IIA Spain (2013): Internal Audit Function in Large Financial Institutions_An International Benchmarking Survey, xem tại  https://www.iia.nl/SiteFiles/Financial%20institutions%20survey%20December%202013.pdf
10. MetricStream: Report on Internal Audit Best Practices, xem tại https://www.metricstream.com/insights/bestpractices_intaudit.htm

TS. Trịnh Thanh Bình

Nguồn: TCNH số 24/2018
Bình luận Ý kiến của bạn sẽ được biên tập trước khi đăng. Xin vui lòng gõ tiếng Việt có dấu