Chất lượng nguồn nhân lực ngân hàng thương mại với chiến lược phát triển ngành ngân hàng đến năm 2025 và định hướng 2030
09/09/2019 7.424 lượt xem
Chất lượng nguồn nhân lực của hệ thống ngân hàng được đề cập trong bài viết là mức độ về năng lực của đội ngũ nhân lực đáp ứng được yêu cầu chiến lược phát triển hệ thống ngân hàng đặt ra.
 
1. Đặt vấn đề
 
Ngày 8/8/2018, Chính phủ đã ban hành “Chiến lược phát triển ngành Ngân hàng Việt Nam đến năm 2025, định hướng đến năm 2030”; trong đó, quan điểm chiến lược phát triển hệ thống ngân hàng Việt Nam là huyết mạch và trọng yếu của hệ thống tài chính; Các tổ chức tín dụng (TCTD) hay ngân hàng thương mại (NHTM) được đối xử bình đẳng, cạnh tranh theo pháp luật, hoạt động tự chủ, tự chịu trách nhiệm. Trong thời gian qua, mặc dù nguồn nhân lực của hệ thống TCTD đã được cải thiện đáng kể, tuy vậy, Chính phủ vẫn đặt ra yêu cầu chú trọng phát triển nguồn nhân lực của ngành Ngân hàng đảm bảo cho việc thực hiện thắng lợi các mục tiêu chiến lược. Bài viết này nhằm thảo luận nêu một số hạn chế, bất cập về nguồn nhân lực NHTM, qua đó, đề xuất một số giải pháp nâng cao chất lượng nguồn nhân lực NHTM để thực hiện thắng lợi chiến lược phát triển ngành Ngân hàng đến 2025 và định hướng 2030. 
 



Theo các đánh giá, hiện tại hệ thống tài chính Việt Nam chủ yếu là các ngân hàng thương mại
 
2. Hệ thống NHTM và yêu cầu về nguồn nhân lực  
 
 Hệ thống ngân hàng Việt Nam đã trải qua nhiều chặng đường lịch sử phát triển. Các giai đoạn phát triển đều đặt ra đòi hỏi về những yêu cầu nguồn nhân lực tương ứng. Thời gian qua và hiện nay, hệ thống các NHTM có những đặc điểm phát triển như: là thành phần chủ đạo trong hệ thống tài chính; tăng trưởng rất nhanh về quy mô; sản phẩm ở giai đoạn sơ khai hàm lượng công nghệ chưa cao; năng lực cạnh tranh và chất lượng tài sản chưa cao;... các yếu tố này đang đặt ra các yêu cầu về nâng cao chất lượng nguồn nhân lực của cả hệ thống NHTM theo chiến lược phát triển ngành Ngân hàng đến 2025 và định hướng đến 2030 mà Chính phủ đã đề ra. 
 
2.1. NHTM chủ đạo trong hệ thống tài chính

Theo các đánh giá, hiện tại hệ thống tài chính Việt Nam chủ yếu là các NHTM. Cơ cấu tài sản có tổng các NHTM chiến hơn 95% tổng tài sản Có của cả hệ thống tài chính; điều này cũng gợi ý rằng nhân lực của khu vực NHTM có vai trò quan trọng trong việc phân bổ các nguồn tín dụng và các dịch vụ ngân hàng khác trong nền kinh tế Việt Nam hiện nay. (Đồ thị 1)
 
2.2. Mối quan hệ giữa tăng trưởng và quản lý 
 
- Thực tế cho thấy, khu vực các TCTD Việt Nam đã phát triển khá nhanh hay tăng trưởng nóng trong giai đoạn từ năm 2000 và đặc biệt từ 2006 - 2010.  Dữ liệu thống kê và nhận định chuyên gia cho rằng khu vực này tăng trưởng nóng cả về vốn chủ sở hữu, dư nợ tín dụng và phát triển nhanh mạng lưới kinh doanh đô thị. Theo nguyên tắc quản lý thận trọng về ngân hàng, mức tăng trưởng này là thách thức về quản lý kiểm soát an toàn, dẫn đến chất lượng vốn bị suy giảm.
 
Thực tế ở một số ngân hàng cho thấy, tình hình tăng trưởng về lượng đang tỏ ra quá nhanh so với việc thiết lập các cơ chế quản lý, quản trị trong các ngân hàng. Điều này dẫn đến hoạt động quản trị, điều hành, kiểm toán, kiểm soát nội bộ tại một số ngân hàng còn chưa theo kịp so với mức độ tăng trưởng của vốn, dư nợ tín dụng, hay số chi nhánh; Thực tế, trong khi tăng trưởng tín dụng hay tài sản lớn, số chi nhánh nhiều nhưng TCTD mới chỉ đang ở giai đoạn đầu áp dụng các phương thức quản trị hiện đại, cơ cấu quản trị còn hạn chế. Ngân hàng mặc dù đã có bộ phận quản trị rủi ro, nhưng chủ yếu tập trung vào rủi ro tín dụng và chưa có nhiều kinh nghiệm xử lý với những rủi ro mới và đang ngày càng gia tăng. Hệ thống báo cáo và công bố thông tin vẫn còn thấp hơn so với các chuẩn mực quốc tế dẫn đến khó khăn trong việc phân tích và xử lý rủi ro. (Đồ thị 2) 
 
Văn hóa quản trị vẫn thiên nhiều về việc tuân thủ các quy định hơn là tự đánh giá và giảm thiểu các rủi ro trong hoạt động ngân hàng. Hoạt động quản trị, điều hành, kiểm toán, kiểm soát nội bộ tại một số ngân hàng còn có bất cập, ảnh hưởng đến khả năng nhận diện những yếu kém trong hoạt động ngân hàng. 
 
2.3. Về sản phẩm dịch vụ ngân hàng của NHTM    
 
Có thể nhận thấy, sản phẩm dịch vụ của hệ thống NHTM trong nước mặc dù đã được cải thiện nhiều, tuy vậy, sản phẩm còn chưa đa dạng; hàm lượng công nghệ, sáng tạo chưa cao. Cụ thể:
 
- Thực tế và thống kê cho thấy, tín dụng còn dựa vào thế chấp tài sản, hay tài sản đảm bảo hơn là tín chấp hay dựa vào hệ thống đánh giá dựa trên việc thu thập dữ liệu có hệ thống. 
 
Tín dụng tiêu dùng còn dựa vào thế thấp tài sản hơn là dựa và hệ thống quản lý đánh giá, xếp hạng tín nhiệm khách hàng. Việc thu thập thông tin, xây dựng cơ sở dữ liệu khách hàng và xây dựng các mô hình đánh giá, kiểm định một cách hệ thống khách quan (như xác suất vỡ nợ, mức độ rủi ro hay điểm tín nhiệm của khác hàng...) còn chưa cao.
 
Trong điều kiện cạnh tranh, hay hội nhập quốc tế sâu rộng hơn thì vấn đề đa dạng hóa sản phẩm và sản phẩm mới, nhất là sản phẩm phi tín dụng đang là đòi hỏi về trình độ quản lý, vận hành đối với các NHTM và điều đó là đòi hỏi với nguồn nhân lực chất lượng cao có năng lực phù hợp;
 
 
 - Các dịch vụ ngân hàng hiện đại chưa được phát triển mạnh; chưa đáp ứng được kỳ vọng của dân chúng: 
 
Quan sát cho thấy, mức độ cung ứng các dịch vụ ngân hàng hiện đại còn chưa nhiều; Các dịch vụ  này còn ở mức hạn chế và như vậy, nguồn nhân lực của các NHTM cần được cải thiện. 
 
Hiện nay, việc cung cấp các dịch vụ ngân hàng cơ bản cho người dân nông thôn, vùng sâu, vùng xa còn có khó khăn trong tiếp cận dịch vụ ngân hàng; Tình trạng này có thể là do nhiều nguyên nhân, nhưng có thể thấy một phần do sự hạn chế về năng lực tìm tòi, thiết kế sản phẩm đa dạng, phù hợp, nhất là sản phẩm mới cho xã hội (Xem mô hình trình độ tổ chức đối với ngân hàng).
 
2.4. Về quản trị doanh nghiệp (corporate governance) của NHTM
 
- Hiện nay, tình trạng sở hữu chéo, nhóm cổ đông chi phối vẫn đang là vấn đề cần xử lý trong hệ thống ngân hàng; đến nay, tình hình đã được kiểm soát nhưng vẫn còn diễn biến phức tạp, cần phải tiếp tục được quản lý chặt chẽ theo các quy tắc quản trị doanh nghiệp lành mạnh được quy định bởi pháp luật để tránh tình trạng lạm dụng, chi phối, gia tăng rủi ro hệ thống.
 
- Với các NHTM Nhà nước nắm đa số quyền sở hữu, vấn đề quy định về đại diện quản lý phần vốn góp nhà nước tại doanh nghiệp cũng vẫn cần tiếp tục hoàn thiện.  
 
2.5. Về năng lực cạnh tranh 
 
Có thể thấy rằng, năng lực cạnh tranh của hệ thống ngân hàng phần nào phản ánh  năng lực quản lý quản trị điều hành của ngân hàng:
 
- Các chỉ số xếp hạng về phát triển thị trường tài chính - ngân hàng của Việt Nam chưa cao; Trong đó chỉ số về TCTD (như chỉ số lành mạnh) ở mức thấp so với các chỉ số bộ phận khác. 
 
- Các NHTM còn có quy mô nhỏ, mức độ lành mạnh tài chính và hiệu quả hoạt động thấp hơn so với ngân hàng của một số nước trong cùng khu vực. Trong tổng số 500 ngân hàng lớn nhất (xét trên tổng tài sản) của khu vực Châu Á Thái Bình Dương do tạp chí The Asian Banker bình chọn năm 2014, Việt Nam chỉ có 10 ngân hàng. 
 
- Xuất khẩu dịch vụ ngân hàng còn hạn chế. Một số NHTM đã thiết lập được chi nhánh, ngân hàng tại nước ngoài, song quy mô hoạt động còn nhỏ, chủ yếu vẫn là phục vụ cho các doanh nghiệp Việt Nam tại một số thị trường như Lào, Campuchia, Myanmar. 
 
2.6. Về chất lượng tài sản  
 
Ngân hàng cho vay trên cơ sở phân tích đánh giá dự án, chất lượng hoạt động của doanh nghiệp (người vay vốn). Như vậy, chất lượng tín dụng phần lớn phản ánh chất lượng từ các quyết định cho vay. Trong những năm qua, việc xuất hiện một số vụ án liên quan đến cho vay phần nào phản ánh chất lượng cán bộ trong các NHTM cần được quan tâm và cải thiện hơn nữa. (Đồ thị 3)

 
2.7. Hành vi chi phí và trách nhiệm xã hội
 
Hành vi hay ứng xử với chi phí của NHTM phản ánh năng lực quản lý doanh nghiệp và trách nhiệm xã hội của ngân hàng. Diễn biến chi phí hoạt động của NHTM thời gian qua phản ánh cách ứng xử của người hay hành vi quản lý ngân hàng trước các diễn biến của môi trường kinh doanh trong nước; Chỉ số này phần nào phản ánh trình độ quản lý hay năng lực của ngân hàng trong việc giảm chi phí để đạt được lợi nhuận tối đa mà không gây các tác động hay phương hại đến lợi ích của các nhóm khác nhất là lợi ích xã hội. (Đồ thị 4)
 

 
2.8. Về đạo đức và thái độ nghề nghiệp 
 
Theo OECD, năng lực người lao động cần được bao gồm cả thái độ nghề nghiệp. Đạo đức và thái độ nghề nghiệp phù hợp sẽ đảm bảo để người lao động hoàn thành tốt nhiệm vụ. Đạo đức nghề nghiệp, trách nhiệm xã hội cũng là yêu cầu phát triển của xã hội đi liền với khái niệm tăng trưởng kinh tế toàn diện. 
 
Ngoài một số hạn chế về chuyên môn, nhân lực quản lý của các NHTM có phần còn hạn chế về tầm nhìn tổng thể, dài hạn và trách nhiệm xã hội… Tình trạng chạy theo lợi nhuận, lợi ích trước mắt đã dẫn đến gia tăng rủi ro đạo đức trong hoạt động kinh doanh. 
 
3. Một  số khuyến nghị về tăng cường năng lực cán bộ ngân hàng 
 
Theo tầm nhìn chiến lược đến 2025, định hướng đến 2030, hệ thống ngân hàng Việt Nam phải thực hiện những nhiệm vụ rất quan trọng gồm tái cơ cấu hệ thống và thực hiện các giải pháp chiến lược phát triển của Chính phủ. Do đó, giải pháp tăng cường năng lực cho cán bộ ngân hàng cần gắn với quá trình tái cơ cấu (theo Đề án 1051/TTg) và yêu cầu của chiến lược phát triển ngành Ngân hàng (theo Quyết định số 986/TTg ngày 8/8/2018). Trên cơ sở thực trạng và định hướng chiến lược của Nhà nước, bài viết đề xuất một vài khuyến nghị nhằm cải thiện nguồn nhân lực của hệ thống ngân hàng như sau:
 
(i) Cải thiện năng lực quản trị chiến lược cho đội ngũ cán bộ quản lý lãnh đạo NHTM theo trình độ cao hơn. Hiện tại, năng lực quản trị ở trình độ của đội ngũ các NHTM cần được cải thiện để đáp ứng tốt hơn các yêu cầu của chiến lược phát triển ngành Ngân hàng theo định hướng của Chính phủ tại Quyết định 986/QĐ-TTg đặt ra. Với mục tiêu chuyển đổi mô hình tăng trưởng mới, Việt Nam sẽ không theo đuổi chủ trương tăng trưởng bằng mọi giá, và thay vào đó là tăng trưởng về chất, "tăng trưởng toàn diện". Sự thịnh vượng của ngân hàng được đi kèm với trách nhiệm xã hội của ngân hàng. 
 
(ii) Nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ quản trị rủi ro ngân hàng gắn với tăng cường năng lực tổng hợp đội ngũ cán bộ ở các cấp (kiến thức, kỹ năng, thái độ và đạo đức nghề nghiệp). Tăng cường công tác đào tạo cán bộ NHTM cùng với đánh giá hiệu quả các quy định, chuẩn mực, thông lệ về quản trị ngân hàng hiện hành. Xây dựng và ban hành các chuẩn mực về quản trị rủi ro dựa trên các chuẩn mực quốc tế. 
 
(iii)  Thực hiện giải pháp đào tạo đội ngũ quản lý điều hành ngân hàng gắn với các quy chuẩn theo định hướng chiến lược của Chính phủ và thông lệ trên thế giới. Nâng cao năng lực đội ngũ quản lý điều hành gắn với đổi mới và nâng cấp quy trình quản trị; nâng cấp chức năng kiểm soát: quản lý rủi ro, kiểm toán nội bộ, tuân thủ. Định hướng đào tạo gắn với hoàn thành việc thực hiện thí điểm 10 NHTM áp dụng Basel II, tổng kết rút kinh nghiệm để mở rộng trên toàn khu vực ngân hàng bắt đầu từ sau năm 2020. Từ năm 2025, triển khai thí điểm áp dụng Basel III tại các NHTMCP có vốn Nhà nước chi phối và một số NHTMCP có chất lượng quản trị tốt, phấn đấu sau năm 2030 triển khai áp dụng cho toàn bộ các NHTM;   
 
(iv) Đào tạo đội ngũ chuyên gia đánh giá phòng ngừa, dự báo rủi ro gắn với cải thiện phương pháp tính toán tỷ lệ an toàn vốn, bảo đảm đủ vốn để bù đắp 3 loại rủi ro trọng yếu là tín dụng, thị trường và hoạt động theo lộ trình áp dụng Basel II; Trên cơ sở này có thể chuyển đổi sang nguyên tắc quản lý theo định hướng phòng ngừa rủi ro, gồm: quy định về tính toán tỷ lệ an toàn vốn theo phương pháp chuẩn, theo phương pháp cơ bản nội bộ; quy định về quy trình đánh giá mức độ đủ vốn nội bộ, kiểm tra sức chịu đựng Stress testing; các quy định về minh bạch thông tin, yêu cầu cung cấp thông tin theo quy định của Ủy ban Basel; Bổ sung các tỷ lệ an toàn mới và cập nhật theo thông lệ quốc tế tốt nhất, tập trung vào các hệ thống quản trị rủi ro thanh khoản, rủi ro tín dụng, rủi ro thị trường và rủi ro hoạt động, lựa chọn áp dụng phù hợp;
 
(v) Đào tạo đội ngũ cán bộ quản lý và chuyên gia để hấp thụ tốt các tiến bộ của cuộc cách mạng công nghệ lần thứ tư (4.0); Có chương trình đào tạo đội ngũ quản lý hay chuyên gia để đáp ứng trào lưu Fintech hiện nay. Nâng cấp hệ thống ngân hàng lõi phù hợp với quy mô, mức độ phức tạp hoạt động và yêu cầu quản trị, điều hành của TCTD; Việc tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin vào điều hành và quản lý, phân tích và phòng ngừa rủi ro... đang đặt ra yêu cầu về đào tạo nâng cao năng lực đội ngũ cán bộ ngân hàng.
 
(vi) Cải thiện năng lực đội ngũ cán bộ làm công tác kiểm soát, kiểm toán nội bộ của ngân hàng. Chiến lược phát triển ngành Ngân hàng cần có định hướng triển khai các chính sách và quy trình nội bộ lành mạnh; Áp dụng và định kỳ rà soát, đánh giá, bổ sung, chỉnh sửa các phương thức quản trị, điều hành tiên tiến dựa trên các chuẩn mực, thông lệ quốc tế và phù hợp với quy định của pháp luật; Hoàn thiện hệ thống xếp hạng tín dụng nội bộ; Thực hiện phân loại nợ, trích lập dự phòng rủi ro theo đúng quy định của pháp luật và phù hợp với thông lệ quốc tế; Nâng cao năng lực đánh giá, thẩm định tín dụng và quản lý, giám sát rủi ro tín dụng của TCTD... Do vậy, yêu cầu về đào tạo nâng cao năng lực cho đội ngũ cán bộ về lĩnh vực này là rất cần thiết;
 
Những khuyến nghị trên đây nhằm mục tiêu nâng cao chất lượng nguồn nhân lực của ngân hàng để thực hiện tốt các mục tiêu chiến lược ngành đến 2025 và định hướng đến 2030.
 
1 Trong khi Indonesia có 4 ngân hàng, Malaysia có 7 ngân hàng, Philipines có 3 ngân hàng, Singapore có 4 ngân hàng và Thái Lan có 6 ngân hàng trong top 200.
 
Tài liệu tham khảo:
1. IMF, 2018: Thống kê IFS của Quỹ tiền tệ quốc tế 
2. Jacob Morgan,2013: The five – step Maturity Mondel for Building a Collaborative Organization 
3. KPMG, 2012 và 2016: Báo cáo khu vực ngân hàng Việt NAm (Vietnamese banking survey, KPMG,com,vn)
4. LienVietPostBank, 2018: Trang web của ngân hàng
5. NHNN: Báo cáo thường niên các năm
6. Thủ tướng: Quyết định 986/TTg ngày 8/8/2018 về Chiến lược phát triển Ngành Ngân hàng đến 2025 và định hướng đến 2030 
7. UBGSTCQG: Báo cáo giám sát các năm;
8. WEF, 2017 và 2018: Báo cáo cạnh tranh toàn cầu 2016/2017  và 2017/18; 


ThS.Lê Văn  Hinh
ThS. Nguyễn Văn Lành


Nguồn: TCNH số 19/2018

Bình luận Ý kiến của bạn sẽ được kiểm duyệt trước khi đăng. Vui lòng gõ tiếng Việt có dấu
Đóng lại ok
Bình luận của bạn chờ kiểm duyệt từ Ban biên tập
Tài chính phi tập trung -  Xu thế tài chính mở
Tài chính phi tập trung - Xu thế tài chính mở
16/08/2022 54 lượt xem
Được phát triển dựa trên công nghệ Blockchain, các ứng dụng tài chính phi tập trung (Decentralized Finance - DeFi) sử dụng mã nguồn mở của các hợp đồng thông minh (smart contract) cho phép tất cả mọi người có thể tự do sử dụng, quản lý và luân chuyển tài sản, giảm thiểu sự tham gia của các trung gian tài chính. Tính chất phi tập trung đem lại những ưu thế nổi trội cho DeFi so với tài chính truyền thống nhưng đồng thời cũng tiềm ẩn những rủi ro nhất định. Bài viết này trình bày những nội dung cơ bản liên quan đến DeFi, một xu thế tài chính mở đang phát triển ngày càng mạnh mẽ trong những năm gần đây, đồng thời phân tích những ưu điểm và hạn chế, rủi ro của DeFi. Nếu phát triển và mở rộng thành công, DeFi có thể góp phần giúp tạo ra một hệ thống tài chính hoạt động hiệu quả và thúc đẩy tài chính toàn diện.
Những kết quả thực nghiệm về các yếu tố ảnh hưởng đến quá trình chuyển đổi số trong ngành Ngân hàng
Những kết quả thực nghiệm về các yếu tố ảnh hưởng đến quá trình chuyển đổi số trong ngành Ngân hàng
11/08/2022 149 lượt xem
Nghiên cứu này nhằm tổng hợp các kết quả nghiên cứu thực nghiệm gần đây về các yếu tố ảnh hưởng đến quá trình chuyển đổi số trong ngành Ngân hàng.
Mô hình đánh giá tác động của các công cụ chính sách tiền tệ trong điều kiện điều hành theo khối lượng tại Việt Nam
Mô hình đánh giá tác động của các công cụ chính sách tiền tệ trong điều kiện điều hành theo khối lượng tại Việt Nam
10/08/2022 185 lượt xem
Trong hơn một thập kỷ qua, kinh tế thế giới đã chứng kiến nhiều biến động mạnh mẽ với ảnh hưởng từ cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư mở ra xu hướng phát triển kinh tế số, cùng với đó quá trình hội nhập và quốc tế hóa toàn cầu diễn ra ngày càng sâu rộng.
Sự phát triển của tín dụng công nghệ và tác động đến bất bình đẳng thu nhập
Sự phát triển của tín dụng công nghệ và tác động đến bất bình đẳng thu nhập
08/08/2022 172 lượt xem
Việc tìm hiểu công nghệ tài chính (Fintech) nói chung, tín dụng công nghệ nói riêng và xem xét các ảnh hưởng đến bất bình đẳng thu nhập là vấn đề đáng quan tâm đầu tư nghiên cứu hiện nay, xét trong bối cảnh thúc đẩy đổi mới sáng tạo trong lĩnh vực tài chính ở phạm vi quốc tế cũng như Việt Nam.
Pháp luật về đánh giá thực trạng và quyết định chủ trương cơ cấu lại tổ chức tín dụng được kiểm soát đặc biệt
Pháp luật về đánh giá thực trạng và quyết định chủ trương cơ cấu lại tổ chức tín dụng được kiểm soát đặc biệt
04/08/2022 264 lượt xem
Ngày 20/11/2017, Quốc hội thông qua Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Các TCTD số 47/2010/QH12 với nhiều thay đổi, bổ sung đáng chú ý trong các quy định về KSĐB và phương án cơ cấu lại TCTD được KSĐB. Điểm được chú ý nhiều nhất của Luật Các TCTD sửa đổi, bổ sung 2017 là việc bổ sung một số lượng lớn các điều, khoản mới quy định chi tiết các phương án cơ cấu lại các TCTD được KSĐB tại Chương VIII, đặc biệt là các vấn đề về đánh giá thực trạng và quyết định chủ trương cơ cấu lại TCTD được KSĐB.
Thực thi chính sách tiền tệ - tín dụng trong bối cảnh đại dịch: Nghiên cứu các nền kinh tế mới nổi
Thực thi chính sách tiền tệ - tín dụng trong bối cảnh đại dịch: Nghiên cứu các nền kinh tế mới nổi
02/08/2022 439 lượt xem
Đại dịch Covid-19 bùng phát đã gây ra không ít tổn thất và xáo trộn đối với phần lớn các lĩnh vực và ngành, nghề trong nền kinh tế, qua đó ảnh hưởng sâu sắc tới cộng đồng doanh nghiệp. Để giúp doanh nghiệp vượt qua khó khăn và duy trì đà sản xuất, tăng cường cung cấp tín dụng thông qua chính sách tiền tệ (CSTT) là một trong những giải pháp cứu cánh quan trọng.
Kinh tế Việt Nam tiếp tục duy trì đà phục hồi song đứng trước nhiều thách thức từ tác động của kinh tế thế giới
Kinh tế Việt Nam tiếp tục duy trì đà phục hồi song đứng trước nhiều thách thức từ tác động của kinh tế thế giới
27/07/2022 387 lượt xem
Sau cú sốc bị ảnh hưởng tương đối nặng nề từ đại dịch Covid-19, kinh tế thế giới lại tiếp tục đối diện với một giai đoạn khó khăn, thách thức không kém khi đại dịch Covid-19 vẫn chưa kết thúc, việc giải quyết những hậu quả do dịch bệnh để lại cộng hưởng với những tác động xung đột giữa Nga - Ukraine khiến lạm phát toàn cầu leo thang, cản trở đà phục hồi của các nền kinh tế toàn cầu.
Thị trường Fintech tại Việt Nam:  Cơ hội và thách thức
Thị trường Fintech tại Việt Nam: Cơ hội và thách thức
21/07/2022 1.699 lượt xem
Trong những năm gần đây, thị trường Fintech tại Việt Nam đã có những bước phát triển rất mạnh mẽ cả về mặt số lượng, sự đa dạng trong sản phẩm, dịch vụ và thu hút vốn đầu tư. Fintech xuất hiện tại Việt Nam từ năm 2017, song phải đến năm 2020, đặc biệt là năm 2021, thị trường mới chứng kiến sự phát triển cả về lượng và chất của các công ty khởi nghiệp Fintech trong lĩnh vực này.
Các yếu tố tạo liên kết thương hiệu ảnh hưởng tới hoạt động kinh doanh của ngân hàng thương mại Việt Nam hiện nay
Các yếu tố tạo liên kết thương hiệu ảnh hưởng tới hoạt động kinh doanh của ngân hàng thương mại Việt Nam hiện nay
19/07/2022 2.337 lượt xem
Liên kết thương hiệu (LKTH) trong lĩnh vực ngân hàng, tiếp cận theo góc độ nhà quản lý, nghĩa là các hoạt động, quyết định, định hướng và công việc mà ngân hàng chủ động triển khai trong việc sử dụng hình ảnh, khai thác các đặc tính nổi trội của sản phẩm, dịch vụ, sử dụng các nhân vật nổi tiếng và các yếu tố tạo LKTH với khách hàng chú trọng tới các khách hàng cá nhân, khách hàng doanh nghiệp…
Xu hướng phát triển sản phẩm, dịch vụ ngân hàng trong bối cảnh chuyển đổi số
Xu hướng phát triển sản phẩm, dịch vụ ngân hàng trong bối cảnh chuyển đổi số
18/07/2022 564 lượt xem
Bài viết tập trung phân tích xu hướng chuyển đổi số và những công nghệ mới của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư (CMCN 4.0) tác động đến sự phát triển sản phẩm, dịch vụ ngân hàng. Trên cơ sở các kịch bản dự kiến về mô hình hoạt động ngân hàng trong tương lai, bài viết chỉ ra 07 xu hướng phát triển sản phẩm, dịch vụ ngân hàng trong bối cảnh chuyển đổi số.
Góc nhìn mới về chuyển đổi số hoạt động ngân hàng - Các ngân hàng cần làm gì?
Góc nhìn mới về chuyển đổi số hoạt động ngân hàng - Các ngân hàng cần làm gì?
12/07/2022 519 lượt xem
Tóm tắt: Chuyển đổi số đang là xu thế trên thế giới để giúp các doanh nghiệp nói chung và ngân hàng nói riêng đi nhanh hơn, tiếp cận khách hàng một cách tốt hơn; và muốn chuyển đổi số thành công thì đầu tiên cần hiểu chuyển đổi số thực sự trong từng ngân hàng cụ thể là gì? Tiêu chí nào để đánh giá quá trình này đạt hiệu quả.
Ngân hàng số Việt Nam năm 2030 - Giải pháp từ nội tại ngân hàng thương mại
Ngân hàng số Việt Nam năm 2030 - Giải pháp từ nội tại ngân hàng thương mại
08/07/2022 658 lượt xem
Từng bước hình thành các nền tảng công nghệ hiện đại hướng tới hình thành ngân hàng số vào năm 2030 là một trong những chiến lược quan trọng của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN), được thể hiện trong Quyết định số 810/QĐ-NHNN ngày 11/5/2021 của Thống đốc NHNN phê duyệt Kế hoạch chuyển đổi số ngành Ngân hàng đến năm 2025, định hướng đến năm 2030.
Hoạt động thương mại điện tử trong bối cảnh hậu Covid-19 tại Việt Nam
Hoạt động thương mại điện tử trong bối cảnh hậu Covid-19 tại Việt Nam
08/07/2022 925 lượt xem
Thương mại điện tử đang trở thành cơ hội mới cho nhiều doanh nghiệp sau đại dịch Covid-19. Nếu như trước đây, thương mại điện tử vẫn còn khá xa lạ với người dân thì hiện nay hoạt động này đã trở nên phổ biến.
Mô hình phát hiện cảm xúc khuôn mặt nhằm đánh giá mức độ hài lòng của sinh viên Học viện Ngân hàng khi tham gia học trực tuyến
Mô hình phát hiện cảm xúc khuôn mặt nhằm đánh giá mức độ "hài lòng" của sinh viên Học viện Ngân hàng khi tham gia học trực tuyến
17/06/2022 649 lượt xem
Trong hoạt động giảng dạy nói chung và tại Học viện Ngân hàng nói riêng, nhận biết cảm xúc và mức độ tập trung của người học là yếu tố quan trọng để dẫn dắt nhịp độ lớp học, thu được kết quả tốt trong hoạt động dạy và học. Với mô hình học tập trực tuyến thì việc nắm bắt cảm xúc người học thông qua khuôn mặt được coi là phương pháp hữu hiệu nhằm xác định được mức độ yêu thích bài học hay mức độ tập trung của người học.
Xây dựng nền tảng tín dụng ngân hàng khu vực dựa trên Microservices
Xây dựng nền tảng tín dụng ngân hàng khu vực dựa trên Microservices
17/06/2022 583 lượt xem
Khái niệm Microservices do Martin Fowler đề xuất vào năm 2014, dùng để chỉ một nhóm nhỏ, được quản lý tập trung trong một hệ thống ứng dụng duy nhất, mỗi dịch vụ chỉ thực hiện một bộ chức năng gắn kết và các mạng hoạt động cùng nhau, chúng được triển khai và được bảo trì riêng biệt.
Giá vàngXem chi tiết

GIÁ VÀNG - XEM THEO NGÀY

Khu vực

Mua vào

Bán ra

HÀ NỘI

Vàng SJC 1L

66.000

67.020

TP.HỒ CHÍ MINH

Vàng SJC 1L

66.000

67.000

Vàng SJC 5c

66.000

67.020

Vàng nhẫn 9999

52.350

53.250

Vàng nữ trang 9999

52.250

52.850


Ngoại tệXem chi tiết
TỶ GIÁ - XEM THEO NGÀY 
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 23.220 23.530 26.488 27.866 31.023 32.318 204.16 214.87
BIDV 23.250 23.530 26.575 27.683 31.139 32.402 203.99 213.29
VietinBank 23.230 23.530 26.607 27.727 31.399 32.409 204.47 213.47
Agribank 23.240 23.525 26.787 27.493 31.334 32.117 205.87 211.70
Eximbank 23.270 23.500 26.871 27.398 31.480 32.096 206.75 210.81
ACB 23.270 23.800 26.814 27.429 31.401 31.993 206.11 211.05
Sacombank 23.260 23.750 26.953 27.513 31.568 32.084 206.29 212.66
Techcombank 23.246 23.532 26.643 27.863 31.118 32.281 205.24 214.28
LienVietPostBank 23.230 23.530 26.875 27.928 31.504 31.988 207.19 213.97
DongA Bank 23.290 23.540 26.930 27.410 31.560 32.110 203.80 210.30
(Cập nhật trong ngày)
Lãi SuấtXem chi tiết
(Cập nhật trong ngày)
Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,20
0,20
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,40
BIDV
0,10
-
-
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
VietinBank
0,10
0,20
0,20
0,20
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
Eximbank
0,10
0,20
0,20
0,20
3,40
3,50
3,70
5,40
5,40
5,90
6,00
ACB
-
0,20
0,20
0,20
3,10
3,20
3,40
4,50
4,60
5,10
5,80
Sacombank
0,03
-
-
-
3,50
3,70
3,80
5,20
5,35
5,80
6,20
Techcombank
0,03
-
-
-
2,95
3,25
3,45
5,25
5,25
5,65
5,75
LienVietPostBank
0,10
0,10
0,10
0,10
3,50
3,50
3,80
4,47
4,45
5,49
5,34
DongA Bank
0,20
0,20
0,20
0,20
3,80
3,80
3,80
6,10
6,20
6,70
7,00
Agribank
0,10
-
-
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60

Liên kết website
Bình chọn trực tuyến
Nội dung website có hữu ích với bạn không?